Trăng xóm lui đèn:

 

GIỌT SỮA ĐẤT

 

" Bài của PHƯƠNG TRIỀU

 

(Xin lỗi, tôi mượn Thơ của quý vị để nói chuyện nầy chuyện nọ.

Nếu tôi có nói trật điều gì, xin quý vị cứ cười, nhưng đừng giận.)

           

"QUÊ NHÀ EM VẼ NÊN THƠ"

Xin khởi đầu bài viết nầy bằng bốn câu thơ của Huy Trâm:

Quê nhà em vẽ nên thơ

Con sông man mác, lá đò thon thon

Em đừng vẽ nắng héo hon

Ngủ trên núi tím hoàng hôn xứ người.

(Huy Trâm)  

"Con sông man mác, lá đò thon thon" hình ảnh đẹp như thơ lại còn hơn cả thơ. Tôi rất thích chữ "vẽ" nầy của Huy Trâm -"vẽ nên thơ"! Chữ nghĩa Việt Nam vô cùng phong phú. Một đời cầm bút vẫn không làm hết trong tôi cái mặc cảm mình chỉ là một cậu học trò bập bẹ đánh vần, chưa đủ tài năng xử dụng từ ngữ, không khéo đôi khi còn làm mất giá trị của từ ngữ, bất quá làm báo, cố gắng viết một bản tin, đặt một cái tựa sao cho văn được thành cú, chữ nghĩa rõ ràng, viết không sai chính tả.

Theo Nguyễn Thạch Kiên, Việt Nam ta có những con sông biết hát:

Dòng Cửu Long, sông Đồng Nai hát:

Em ơi em, thương mấy là thương!

Hò... ơ... cầu bắc bao nhiêu nhịp

Là bấy tình anh trải xuống đường.

(Nguyễn Thạch Kiên)

Hai bậc đàn anh dùng hai tiếng "vẽ" và "hát" khiến tôi ngẩn ngơ. Nhà văn Xuân Vũ có lần nói với tôi, "Có những tiếng mình không nghĩ ra mà người khác nghĩ ra được.".

Hồi trước tôi cứ nghĩ giản dị rằng đối với quê hương, nếu chúng ta là người chụp ảnh, người làm thơ, người làm nhạc... thì chỉ cần ghi lại cho trung thực. Trong quê hương có sẵn thơ, nhạc, cảnh và tình. Nhưng càng đọc thơ văn của các bậc tiền bối, tôi càng tự trách mình suy nghĩ nông cạn. Thử đọc lại hai câu nầy:

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

(Bàng Bá Lân)

Bốn tiếng "múc ánh trăng vàng" tạo cho ta cái cảm giác "điếng người". Đây là chữ nghĩa của một bậc thầy! Bấy lâu, những bóng dáng lồng lộng của những bậc tiền bối đã khiến tôi có thêm cái cảm tưởng rằng mình dầu làm được bao nhiêu bài thơ vẫn coi như chưa làm được gì! Làm thơ không thể đơn giản là một công việc ráp chữ mò vần! Càng làm thơ lại càng cảm thấy không dễ trở thành nhà thơ đúng nghĩa.

Hồi mới gia nhập làng báo, tôi là một phóng viên "nhóc". Công việc thường xuyên là viết lại những bản tin của các thông tín viên đô thành và các tỉnh sao cho ngắn gọn, tham dự các buổi họp báo viết bài tường thuật, thỉnh thoảng viết một bài phóng sự do anh Tổng thư ký Tòa soạn gợi ý.

Có lần sau khi báo lên khuôn, được anh Tổng thư ký Tòa soạn kéo ra quán uống bia, đợi lúc anh vui, tôi ngập ngừng nói, "Em biết làm thơ viết văn...".

Anh nheo mắt, "Tao biết!... Nhưng thơ văn của mầy chưa đăng báo bán được! Làm báo coi vậy mà không dễ ăn đâu, con ạ! Viết văn làm thơ nếu báo không chịu đăng thì mình đập ống heo lấy tiền in thành sách. Sách bán không chạy thì biếu chạy. Nhưng viết báo mà độc giả không thèm đọc là bị chủ báo đuổi. Ráng mà học cách viết của các bậc đàn anh rồi tạo ra cách viết độc đáo của mình sao cho độc giả thấy tên mình là đọc mà không bỏ qua. Bắt đầu ngày mai mầy phải học cách làm tựa bài. Ráng học để sau nầy có thể làm Thư ký Tòa soạn.".

Anh Tổng thư ký Tòa soạn rít một hơi thuốc Ruby rồi hất hàm, "Nghe nói mầy viết được loại trinh thám võ hiệp kỳ tình?".

Tôi gật, "Dạ. Lúc ở tờ bán tuần san Bình Dân của mấy ông Phú Đức (tác giả Châu Về Hiệp Phố), Chánh Dân và Việt Định Phương, em có viết loại đó.".

Anh Tổng thư ký Tòa soạn búng tay, "Viết thử vài kỳ cho tao coi. Nếu được, đăng nơi trang hai mỗi ngày và có nhuận bút riêng.".

Kể từ đó, tôi vừa làm phóng viên vừa viết truyện trinh thám võ hiệp kỳ tình. Mỗi đoạn tôi đều mở đầu bằng hai câu thơ. Anh Tổng thư ký Tòa soạn đọc thấy nhưng không nói gì, thỉnh thoảng chỉ hù, "Ráng đi, con! Độc giả chê là tao dẹp!". Anh Tổng thư ký Tòa soạn lớn hơn tôi một con giáp, khi nào lên mặt "sư phụ" thì anh gọi tôi là con. Anh hết lòng dạy nghề cho tôi, và một năm sau anh cho tôi làm Thư ký Tòa soạn phụ trách các trang trong của tờ báo.

Tôi ấm ức chuyện làm thơ, nhưng rồi cứ làm báo miết nên bỏ hẳn việc làm thơ cho tới năm 1994 định cư tại Hoa Kỳ tôi mới làm thơ trở lại. Nhưng làm thơ mấy năm rồi mà cứ thấy "trớt quớt" chẳng ăn thua gì và lại càng thấm thía câu nói của anh Tổng thư ký Tòa soạn ngày xưa, "Thơ văn của mầy chưa đăng báo bán được!".

 

Không dám đi xa hơn trong việc lạm bàn những ý tưởng sâu sắc về văn học, tôi xin trở lại những suy nghĩ đơn giản. Trước hết, đố quý vị tìm bất cứ nơi nào trên thế giới, ngoài Việt Nam, có những món ngon nầy:

Nghe thèm quá ơ mắm đồng quê ngoại

Khứa cá tươi, bông súng, rau dừa non

Củi trâm bầu bén duyên cơm nồi đất

Chỉ Cây Dù, mẹ vá áo cho con.

(Hải Bằng)

hoặc:

Khô cá sặt nướng vàng xé nhỏ

Xoài sống bằm thêm ớt tỏi đường

Dằn chút muối thêm vài lá quế

Bốn thằng một lít nhậu sương sương.

(Thy Lan Thảo)

hoặc:

Nhớ bà ngoại, nồi canh chua rau nhút

Cá trê vàng kho tộ rắc tiêu cay

Tép ruộng, tôm đìa xào với măng tây

Cơm gạo mới thơm lừng nghi ngút khói.

(Dư Thị Diễm Buồn)

Trong một bài khác, tôi có viết: "Nhớ người yêu ở quê hồi mới lớn không khác gì nỗi nhớ "ơ mắm đồng quê ngoại"của Hải Bằng!". Ý tôi muốn nói nhớ ơi là nhớ. Xin bạn già Hải Bằng đừng phiền!

Ai chê tôi trần tục, tôi cũng đành. Nhưng ba đoạn thơ trên, tôi vừa đọc vừa hít hà chép miệng, vừa nuốt nước bọt, đúng như hai tiếng "thèm quá" của Hải Bằng! Thèm thì thèm vậy nhưng nếu tình cờ tìm thấy được ở đâu đó ngoài Việt Nam, những món giống như vậy thì nó lại không hoàn toàn ngon, không hoàn toàn đầy đủ hương vị nếu bữa ăn thiếu bàn tay chăm sóc của bà ngoại, của mẹ, của dì, của chị... Đặc biệt là nụ cười móm mém của mẹ già, "Má nấu vầy con ăn có vừa miệng không con?". Nhiều đêm mùa đông lạnh lẽo, bụng đói, nằm co ro trên ổ rơm trong trại tù "cải tạo" ở miền thượng du Bắc Việt sau 1975, tôi đã trào nước mắt khi nhớ lại nụ cười và giọng nói của mẹ.

Và, các món ăn quen thuộc của quê nhà cũng sẽ không hoàn toàn ngon khi chung quanh thiếu nắng sông Tiền, mưa sông Hậu và gió lộng Đồng Nai, Vàm Cỏ... nên Song Thi quả quyết:

            Không phải nơi nầy quê hương tôi

            Quê hương từ thuở mới nằm nôi,

            Quê hương chỉ có mùa mưa, nắng

            Có lá me xanh rợp mát trời.

(Song Thi)

°

 

            "THƯƠNG GIỌT PHÙ SA NHƯ LÀ SỮA ĐẤT"

Quê tôi Sa-đéc vào mùa nước nổi, nước tràn lên vườn lên ruộng và khi nước rút đã để lại một lớp phù sa mịn màng như sữa. Chúng tôi được ông bà dạy gọi là sữa đất.

Qua phà Mỹ Thuận, qua Sa-đéc

Mây trắng bồng bềnh phía Vĩnh Long

Cây mạ trổ đòng tươi thôn ấp

Nắng lồng bóng nước, sóng Tiền Giang...

(Diên Nghị)

và:

Tuổi thơ tôi trải vùng châu thổ

Ruộng trủng, ruộng gò, mộng ngát xanh

Tre trúc la đà đường xóm nhỏ

Hiu hiu trong nắng, gió khua cành.

 

Ốc gạo, hến cồn thêm mập tròn

Xoài voi, xoài cát trái thơm ngon

Tháng năm, tháng sáu mưa chen nắng

Mận ngọt vườn ai nhớ ổi giòn.

(Hồ Trường An)

Có đi nhiều như Phan Yến Linh, mặc dầu chỉ từ Bến Hải tới Cà Mau, mới thấy được sự trù phú và bát ngát của quê hương:

            Nào bưởi Biên Hòa, măng Bến Cát

            Sầu riêng mỗi độ xa Bình Dương

            Luyến Tây Ninh núi cao, rừng rậm

            Bùi vị khoai thơm, ngọt mía đường

 

            Muôn ngả đường đi như mạch máu

            Nối liền thân thể của non sông

            Về qua Mỹ Thuận thương cây nụ

            No trái cam xanh, ổi, mận hồng

 

            Cà Mau nằm chạnh tình Sa-đéc

            Sang Bến Tre rồi nhớ Bạc Liêu

            Rũ tóc dừa xanh soi bóng nước

            Gió đem hoa nhãn ướp men chiều

(Phan Yến Linh)

Mong một ngày về thăm quê ngoại

Ăn bữa cơm ngon với mắm đồng

Cá rô vàng óng trong chum nhỏ

Ngoại chắt chiu nhiều theo tháng năm.

(Hoàng Linh Trang)

Hơi thơ còn mạnh hơn, nôn nao hơn ở Trần Trung Đạo:

Trái tim tôi có một dòng máu đỏ

Sẽ một ngày chảy đến tận Câu Lâu

Nước sông Thu dù lụt lội đục ngầu

Nghe vẫn ngọt như bòn bon Đại Lộc.

(Trần Trung Đạo)

và ở Tuyết Sơn Nguyễn Văn Thu:

Gió chở ai nghe năn nỉ nhắn

Lòng tôi đẳm nhớ gởi quên nhà

(Tuyết Sơn Nguyễn Văn Thu) 

và lòng quặn thắt:

Quê xưa sông núi dù đau đớn

Nào phải đây mùa vĩnh viễn xuân?

(Tuyết Sơn Nguyễn Văn Thu)   

Có lúc chúng ta đã nghĩ rằng quê ta không chỉ là nơi chôn nhau cắt rún mà bất cứ đâu đó của lãnh thổ quê hương:

Có phải thu vừa gõ cửa Sài Gòn

Làm lá rớt vùng Phú Lâm thân thiết

Hay thu chạy từ Long Thành quen thuộc

Chân chạm Thị Nghè qua ngõ trống Hàng Xanh?

            (Trần Kiêu Bạt)

            Nơi nầy của quê hương và nơi kia của quê hương "Hình như có chỗ giống in nhau?":

Biển Hà Tiên khác biển Vũng Tàu

Hình như có chỗ giống in nhau

Khi ta dẫm bước trên triền cát

Gặp dấu chân quen tự thuở nào?

(Lê Cần Thơ)

"giống in" chớ còn gì nữa, anh Lê Cần Thơ! Anh Cần Thơ, tôi Sađéc, Hồ Trường An Vĩnh Long, Phan Yến Linh Tây Ninh, Hải Bằng Rạch Giá, Cao Mỵ Nhân Hoàng Liên Sơn, Song Nhị Hà Tĩnh, Trần Trung Đạo Quảng Nam... đều có chung Tổ Hùng Vương. Chúng ta có khác nhau chỗ nào đâu! Chúng ta cùng mong mỏi như Ngô Minh Hằng:

            Đây, một nén hương lòng con cháy đỏ

Khói u hoài cao ngất chín từng mây

Con kính cẩn xin hồn thiêng Quốc Tổ

Đưa Việt Nam qua cuộc biển dâu này!

(Ngô Minh Hằng)

            Nếu cuộc biển dâu chưa qua được thì:

Đêm đêm xứ lạ quê người,

Nghe ca vọng cổ, buồn ơi là buồn!

Sáu câu vọng cổ sầu vương

Gợi bao nỗi nhớ, nỗi hờn năm nao

Giờ này nghe vẫn còn đau,

Ba mươi ngày đó lệ trào ly hương.

(Phạm Thành Tính)

và tình hoài hương vẫn cứ đoài đoạn trong lòng người ly xứ:

Thương hoài một mảnh trăng quê

Và em tóc xõa lối về chia tay

Bến sông lưu luyến gió đầy

Đưa anh chân sáo hao gầy gió đông.

(Bùi Vĩnh Hưng)

Cuối cùng tiếng gọi "Việt Nam ơi! Việt Nam ơi!"vẫn là tiếng gọi thiết tha, dầu là tiếng gọi rung theo những quặn thắt trong lòng!

Việt Nam ơi! Việt Nam ơi!

Tiếng Em như vọng tự trời nguyên sơ

Gặp nhau nào đợi nào chờ

Dặm dài thiên lý bây giờ là đây

Hỏi giờ lá lại lên cây?

Hỏi giờ gió sẽ xe mây về rừng

Giữa chiều tiếng hát rưng rưng

Nửa chừng gang tấc, nửa chừng chơi vơi.

(Nguyễn Thùy)

"Giữa chiều tiếng hát rưng rưng. Nửa chừng gang tấc, nửa chừng chơi vơi.". Anh Nguyễn Thùy!... Ở một góc trời phương Tây, giữa buổi chiều nào đó, anh bàng hoàng nghe được âm thanh tiếng hát thành hình ảnh giọt lệ rưng rưng. Không chỉ bao nhiêu năm nay mà đã từ lâu lắm, quê hương không chỉ là hình ảnh mà còn là tiếng nói, là âm thanh, là giọng cười trẻ thơ, là tiếng ru mẹ hiền, là điệu hát tình nhân...

Hình ảnh là âm thanh, âm thanh là hình ảnh. Không phải ta lẫn lộn giữa màu sắc và âm điệu mà có lẽ vì ta nhớ quá quê hương! Không phải quê hương lầm than bây giờ mà là quê hương lịch sử. 

Chợt tỉnh cơn đau, sao lại khóc?

Nhớ người hạ trắng khắp năm châu

Nắng ơi, theo gió về quê Mẹ

Dâng kính dùm ta một miếng trầu!

(Trịnh Du)

Trịnh Du ơi, mẹ già răng rụng móm mém, miếng trầu phải được ngoáy thật nhuyễn rồi mới dâng lên mẹ. Nhớ mẹ là nhớ cái ống ngoáy gia truyền của bà ngoại. Thế hệ chúng ta không còn ai ăn trầu, nhưng cái ống ngoáy trong gia đình là một kỷ vật vô giá. Hơn một lần trong giấc ngủ chập chờn, cái ống ngoáy đó đã ngoáy xuống tim ta làm bật trào nước mắt...

            Những năm gần đây mỗi lần nghe ai hát "Quê hương là chùm khế ngọt", tôi cứ bần thần nghĩ rằng điều đó không đúng lắm. Theo tôi, quê hương là bầu sữa mẹ. Tiếc rằng bầu sữa đó đã bị người ta vắt đến cạn kiệt nên vú mẹ chỉ còn là cái vú da bèo nhèo thật tội nghiệp!...

 

PHƯƠNG TRIỀU

 

            GIỌT SỮA ĐẤT

 

            Thương giọt phù sa như là sữa đất

            Đêm quê nghèo mưa trắng lạnh Tiền giang...

            Em thả tóc hương lài thơm gối mộng

            Búp tay mềm với gọi giấc mơ tan...

 

            Mùa ốc gạo anh còn đi xúc tép

            Chiều Tân Hưng ngõ bướm rợp hoa vàng

            Mai họp chợ Nha Mân xuồng ghé sớm

            Em buổi chiều Rạch Rắn đợi anh sang!

 

            Mấy nhỏ bạn miệt Nàng Hai, Xóm Cửi

            Dặn mua dùm xoài tượng với dưa gan

            Anh hái mận ra Cái Tàu đổi rẻ

            Thêm chục xoài cát ngọt cúng trên trang!

 

            Van vái được cưới em ngày mới lớn

            Hạnh phúc đơm đầy hoa lá bình an

            Đâu biết được mộng đau vùi giấc bướm

            Nha Mân buồn Rạch Rắn đã sang ngang!

 

            Đêm trở lại ngậm ngùi trăng cố thổ

            Bóng hình xưa bèo bọt giấc mơ tàn...

           

            PHƯƠNG TRIỀU