Trăng xóm lui đèn:

 

GIÓ ĐƯA MÂY KHÁC

 

Bài của PHƯƠNG TRIỀU

 

(Xin lỗi, tôi mượn Thơ của quý vị để nói chuyện nầy chuyện nọ.

Nếu tôi có nói trật điều gì, xin quý vị cứ cười, nhưng đừng giận.)

    

     NỖI BUỒN MANG VÁC QUÁ LÂU, LÀM SAO ĐỂ XUỐNG?

Không phấn son trang điểm sao mặt nắng ửng hồng? Không lụa là chải chuốt sao mát thịt thơm da? Trong đời, chắc không ít hơn một lần ta buông lời sáo ngữ để che bớt sự thật trần truồng! Nhưng Thơ không hề là sáo ngữ. Chỉ là sự trần truồng tự nhiên khởi sắc.

Hồi còn học lớp chót, có lần tôi nghe thầy nói, "Người ta có thể khóc liên tục suốt ba ngày, nhưng không ai có thể cười được mười lăm phút!".

Thì ra, sáu mươi năm cuộc đời, tiếng cười gộp lại không đủ một năm vui. Ở trong gia đình, ngoài xã hội, người ta cố chọc cho nhau cười, giúp cho nhau vui. Vậy mà thế hệ chúng ta buồn nhiều hơn vui. Từ chuyện lớn tới chuyện nhỏ. Chuyện lớn là vận nước nổi trôi, chuyện nhỏ là mạng người trôi nổi. Những năm gần đây, tin tức báo động về việc phụ nữ Việt Nam bị đem bày bán khắp nơi như hàng hóa khiến ai cũng nhỏ lệ trong lòng! Phụ nữ Việt Nam thường đồng nghĩa với vợ hiền, chinh phụ, từ mẫu, với cái cò, với sự tận tụy hy sinh, có khi là đau khổ triền miên, bây giờ còn thêm nghĩa trôi giạt, bọt bèo. Ai đã tạo nên nỗi đau khổ nầy?

Cuối năm ngồi đếm lá vàng

Sáu mươi lăm tuổi,

Muộn màng chưa em?

Còn gì để nhớ,

để quên...

Lá vàng vẫn rụng,

Nối thêm nhánh sầu!

(Ngọc Hoài Phương)

Nhánh sầu đã mọc tứ phương, mọc từ vạn cổ. Sáu mươi lăm năm nhánh sầu đã mọc, vậy mà vẫn còn nối thêm. Nối tới đâu, nối về đâu? Cuối năm thì làm báo Xuân, uống ly rượu ngọt, chớ ngồi đếm lá vàng làm gì hở Phương? Sao không cười nụ Hồng Đào, sảng khoái Quang Minh, ví von cùng Việt Thảo, Vân Sơn? Đời hành tội ta xơ xác tả tơi, sao ta cứ buồn bực, ngồi đếm lá vàng để tính thời gian rơi rụng?

 Bấy lâu, đời vốn đã hiếm hoi nụ cười, nên thương biết mấy những người không chịu cười, lúc nào cũng dọn cho mình một khuôn mặt lạnh lùng táo bón kinh niên. Bao nhiêu năm qua, từ ngày sống với nghề cầm bút, tôi đã gặp nhiều kẻ hợm mình, tự cho mình tài giỏi trên chân thiên hạ, đứng hay ngồi lúc nào mặt mày cũng "vác hất". Hai tiếng nầy tôi không biết viết thế nào cho đúng: "vác hất" hay "giác hấc"? Người miệt vườn quê tôi thường dùng hai tiếng nầy: "Cái thằng cha / cái con mẹ thật phách lối lúc nào mặt mày cũng "vác hất" thấy phát ghét!"

Tôi không thấy tiếng nào hay hơn hai tiếng "vác hất" dành cho khuôn mặt của một số người đứng đâu đó bên lề cuộc sống, ngạo nghễ nhìn bao nhiêu người khác đang vất vả trăm bề, kề vai gánh vác việc chung.

°

Nửa đêm về sáng không ngủ được, tôi mở nhạc.

"...Hồn như cây đứng đã chết ngang vai..."

Khánh Ly đã hát bản "Dạ Khúc" của Nguyễn Đình Toàn rất hay. Lời nhạc hay như lời thơ.

Lâu nay tôi vẫn thích lời nhạc của các nhạc sĩ: Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Nguyễn Đình Toàn, Hồ Đình Phương, Trúc Phương, Lam Phương, Trầm Tử Thiêng, Nhật Ngân, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên...

Đặc biệt Trầm Tử Thiêng. Trầm giống như một con tằm, thường nuốt hết nỗi buồn vào trong rồi khi nhả ra thì là những sợi tơ vàng óng ánh.

Trong đời, tôi chưa hề dám mở miệng chê nhạc của ai là sến. Một số bài bị chê là sến, nhưng lại có những câu, những đoạn khiến người nghe phải động lòng. Thiệt tình mà nói, tôi không chịu được những lời nhạc rên rỉ quá mức, đại loại như "Em ơi, em bỏ anh!... Anh ơi,  anh bỏ em!... Anh khóc suốt ngày, em khóc suốt đêm...". Liệu những người như vậy còn có giọt lệ nào cho quê hương, cho những mảnh đời tan tác của bao cô gái đang bị đem đi bày bán khắp nơi? Cho lời rao của nhạc sĩ Vũ Thành An: Chỉ cần có 3 đô-la là đủ mua 10 kí gạo cho một cụ già nghèo khổ có cơm ăn một tháng...

Đoạn thơ nầy cũng buồn:

Cuối thu, thưa Mẹ, lạnh nhiều

Mây như thấp xuống cho chiều buồn thêm

Mình con lặng đứng bên thềm

Mẹ ơi cánh lá thu mềm lại bay...

(Ngô Minh Hằng)

Tới bây giờ tôi vẫn cho rằng hai tiếng hay nhứt trong văn chương Việt Nam là "Mẹ ơi!" hoặc "Má ơi!". Những lúc vui, người ta ít khi nhớ tới mẹ, nhưng những khi buồn, người ta cứ gọi thầm hai tiếng "Mẹ ơi!".

Tới tuổi nào cũng vậy, hạnh phúc lớn nhứt của con người là còn có mẹ để thỉnh thoảng được cất tiếng gọi Mẹ ơi / Má ơi!...

Dĩ nhiên là mẹ ruột, hoặc mẹ vợ mẹ chồng hoặc mẹ nuôi, nghĩa mẫu. Nhưng trường hợp gọi Mẹ / Má như sau thì thật đau lòng. Đó là tiếng gọi những Bà-Hai-tiền-đứng, Bà-Ba-tiền-góp...

Hồi đi tù về, đói rách triền miên, tôi thường tìm mấy "" nầy để vay tiền mua gạo cho vợ con. Tôi nói, "Bà cho tôi vay mười ngàn. Trả góp".

Lần đầu, "" nhìn tôi, "Ai cũng gọi tôi bằng Má. Cậu cỡ tuổi con tôi, không gọi tôi một tiếng Má được sao? Nè, nếu không chịu gọi tôi bằng Má, tôi không giúp!".

Tôi trợn trạo, "Ừ, Má thì Má, nhưng Má đừng siết họng con. Bớt chút phân lời được không?"

"" lắc đầu, "Ai cũng vậy! Bớt cho con thì mấy đứa khác phân bì!"

Tôi còn nhiều lần gọi "Má Hai, Má Ba" như vậy khi không chạy kịp tiền để góp. Ông Tú Vị Xuyên cay đắng "van nợ có khi trào nước mắt". Càng lâm vào cảnh ngộ như vậy lại càng thấm thía câu thơ của Tú Xương!

Nỗi buồn vác lên rất dễ nhưng buông xuống rất khó. Tôi có một nhược điểm là không nguôi được những kỷ niệm bạn bè. Khiến có lần có người gắt, "Chuyện bạn bè, nhắc hoài!...". Ờ, đúng vậy, tôi còn viết được tôi còn nhắc.

Năm 1964, anh Huy Quang Vũ Đức Vinh tặng anh Thanh Nam một cái cà-vạt. Anh Thanh Nam tặng lại cho tôi. Tôi giữ chiếc cà-vạt gần ba mươi năm, đến khi nó bạc màu. Năm 1975, trong trại "cải tạo" đi gánh gạch, tôi bị vách tường sập đè té úp mặt xuống đất, bể mắt kiếng cận thị. Lưu Phương Nguyễn Văn Thới ở cùng trại cho tôi cặp kiếng, tôi mang tới bây giờ và hai lần thay gọng. Lưu Phương đã qua đời trong trại "cải tạo" ở Bảo Hà, Bắc Việt. Tôi quên được sao những kỷ niệm đó?

Nhớ những người bạn cùng thế hệ, cùng khởi nghiệp cầm bút vào cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60, giờ còn được mấy? Đã nằm xuống: Hoàng Trúc Ly, Trọng Nguyên, Ngô Tỵ, Hoài Điệp Tử, Phan Yến Linh, Thanh Việt Thanh, Lê Đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến, Trầm Tử Thiêng, Dương Trữ La, Hoài Hương Tử, Anh Việt Thu, Trọng Viễn...

Giờ, may ra còn: Vũ Thụy Hoàng, Trần Đông Phong, Hồ Nam, Anh Tâm, Viên Luông, Trần Tuấn Kiệt, Song Thi, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Hồ Trường An, Hải Bằng BNN, Phan Bá Thụy Dương, Ngọc Hoài Phương, Tô Kiều Phương, Yên Lang, Trọng Minh, Lâm Tường Dũ, Vũ Uyên Giang, MH Hoài Linh Phương...

Đầu Thu 2005, đọc "Chút Tình" chuỗi thơ tôi gởi cho 59 người, Đinh Tiến Dũng tức Đinh Lang hỗn danh Đinh Bù Loong la sảng, "Đây là lời trối trăn của Phương Triều" khiến Đào Vũ Anh Hùng hoảng hốt gởi eMail cho tôi, "Bộ anh muốn phủi tay để ra đi sao?". Rồi Đào Vũ Anh Hùng kéo Đinh Lang lên xe, tự mình cầm tay lái từ Dallas xuống Austin thăm tôi, hai người hai máy ảnh chụp lia lịa để "mần kỷ niệm".

Tôi thì vật vờ với chứng bệnh cứ tái phát khiến những người thân yêu lo ngại.

Anh Tô Thùy Yên từ Houston lên thăm tôi hai lần. Lần đầu có Phan Dụy, lần sau có phu nhân Huỳnh Diệu Bích. Anh Tô Thùy Yên nhìn tôi thở dài, "Thà đau một giờ chết một giây...". Tôi cũng mong được vậy.

Anh Tô Thùy Yên tới thăm và ngồi lại với tôi suốt một ngày. Tôi đã đọc tập thơ "Thắp Tạ" của anh gởi tặng. Và, nhiều bài thơ của anh làm tôi vô cùng xúc động. Tôi không hiểu hết thơ anh. Tôi xúc động theo sự suy nghĩ của tôi.

Trước và sau đó đã có các anh chị Nguyên Nhung và phu quân, Nguyễn Ngọc Ánh, Lê Phát Được, Hưng Quốc (đồng hương Sadec), Vũ Tiến Lập, Bửu Ẩm, BS Lê Quang Trọng và phu nhân, Châu Trung Thành, Huỳnh Thanh Lợi... và, những người lặn lội từ phương xa tới thăm: Kim Âu (Georgia), Nguyễn Ngọc Sanh (Úc), GS Nguyễn Thùy (Pháp), Trà Nguyễn (North Carolina), BS Tiêu Minh Thu và phu nhân (Wisconsin), Huỳnh Hữu Kim & Trương Thị Hạnh (Virginia), Tăng Thu (Cali), Lê Châu An Thuận và Hoàng (Minnesota)...

Dì Dượng Ngọc Diệp - Phú Ông lui tới thường xuyên ân cần ủy lạo.

Việt Hải Los Angeles viết bài trên trang Web, cầu nguyện xin "Mùa Xuân Bình Yên Cho Phương Triều":

     Lạc bước người xa chốn Sa Giang

     Muôn phương bốn bể một thiên đàng

     Kiếp nhân thế phù vân giao động

     Đời vốn trầm luân những gian nan

     Lão Tử xoay vần sau Sanh Bịnh

     Thiện tâm thiện mỹ sắc kim cang

     Thanh nhàn bước chân tìm hạnh phúc

     Lời cuối ngàn sau Xuân Bình An

     (Việt Hải LA)

Nhật Hồng (Michigan) gọi điện thoại tới vừa hỏi thăm vừa khóc ồ ồ khiến tôi cứ bần thần, "Mình sắp đi rồi sao?"

Từ các thành phố Hawthorn, San Jose (California) và Houston (Texas) các nhà thơ Cao Mỵ Nhân, Ngọc An, Lan Cao, Lưu Thái Dzo, Mùi Quý Bồng và Vô Tình... đã tiếp thêm hơi thở cho Phương Triều bằng những câu thơ rạt rào tình nghĩa kim bằng:

     Cầu xin vượt khỏi phong ba

     Để Phương Triều mãi vui hòa bạn thơ.

     (Cao Mỵ Nhân)

     Đời là cuộc rong chơi diễm ảo

     Cõi phù vân bát nháo giã từ

     Bao năm chân giả thật hư

     Lên thuyền bát nhã an cư một đời

     Là giọt nước ngoài khơi biển cả

     Cát bụi trần trả lại nhân gian

     Cuộc đời là bể đa đoan

     Kiếp người ai chẳng một lần ra đi …

     (Ngọc An)

     Thơ níu lại mùa xuân hấp hối

     Bạn bè khâu vá vết thương đau

     Giọt Sữa Đất Nam hòa máu lệ

     Phương Triều bút mực nối tình nhau.

     (Lan Cao)

     Cho nhau gi?t s?a d?t khô,

     Tìm nhau cửa mộng khuya lo d? d?u.

     (Mùi Quý Bồng)

     Nguyện cầu Đấng ngự trên cao

     Cho đời anh ngập trăng sao an bình

     Bút còn reo với nhịp tim

     Kiếp tằm còn nhả tơ tình yêu thương.

     (Lưu Thái Dzo)

     Xứ người - tỵ nạn- dù lây lất

     Ngọn bút anh còn vững thế chiêu

     (Vô Tình)

     Nhà thơ Vũ Tiến Lập (Houston, TX) thường gởi thơ tặng tôi, thỉnh thoảng hoặc một mình hoặc cùng cùng bà xã tới Austin thăm tôi và ngồi lại suốt mấy tiếng đồng hồ. Chỉ dùng bút đàm. Hai anh em không "nói" nhiều với nhau, nhưng giữa chúng tôi lâu nay vẫn có sự đồng cảm về thơ, mặc dầu về thi pháp chúng tôi có khác nhau!

     Nhạc sĩ Nguyễn Tuấn (Philadelphia, PA) phổ nhạc bài thơ "Heo Hút" của Phương Triều và Bác sĩ Nhạc sĩ Nguyên Bích (Houston, TX) bỏ nhiều thì giờ hát đi hát lại bài nầy để tặng Phương Triều.

     Nhạc sĩ Hoàng Tường (Houston, TX) phổ nhạc và hát hai bài thơ "Giọt Sữa Đất" và "Tiếng Hát Hoa".

     Thơ Phương Triều vốn "tửng tửng" và nhiều từ ngữ dân dã rất khó phổ nhạc và rất khó hát. Vậy mà mấy ông nầy làm rất tới!

     Đây là những tặng phẩm tinh thần vô cùng quí giá đối với một người suốt đời lận đận vẫn tận tụy với nghiệp dĩ.

     Ngoài ra các anh Đinh Tiến Dũng, Ngọc Hoài Phương, Mùi Quý Bồng, Trần Trung Ginh... đã gởi cho Phương Triều những DVD, CD, Karaoke, Video, Cassette... ca nhạc. Những lúc Phương Triều không ngồi dậy nổi thì nằm nghe ca nhạc rỉ rả, không có thì giờ "huỡn" mà nhớ tới căn bệnh hiểm nghèo! Có lẽ nhờ vậy mà ngày lại được... qua ngày!

     Từ hồi còn nhỏ, tôi đã không có tánh hảo ngọt, rất kỵ những món chè, nhứt là chè chuối chưn và món kiểm nấu bằng bí đỏ "ngọt lực"! Vậy mà bây giờ tôi không ăn được gì chỉ nuốt được sữa Ensure Plus để sống qua ngày! Cái loại sữa đại bổ nầy thật quí nhưng dầu có hương vị gì vẫn cứ ngòn ngọt, ngày nào cũng uống thì ớn còn hơn "ớn chè đậu". Phải chăng là "quả báo nhãn tiền"?

     Ngoài thuốc men, còn nhờ thơ văn đỡ Phương Triều ngồi dậy, lết tới computer gõ lóc cóc! Không chỉ nhờ những câu thơ của mình mà nhiều khi nhờ đọc những câu thơ của bằng hữu bốn phương lại cảm thấy khoan khoái mà quên được chứng bệnh nan y. Ngoài ra vừa nghe nhạc lai rai vừa nhấm nháp triền miên cái món Ensure Plus cũng đỡ ngán!

     Trong truyện Kim Dung có nhiều cao thủ phải khổ luyện dữ lắm mới xong một bí kíp. Tôi nay vừa nhờ văn thơ, vừa nghe ca nhạc, vừa đẫm cái món sữa Ensure Plus đại bổ, không phải luyện bí kíp gì ráo, chỉ để xạ trị (radiation) và hóa trị liệu pháp (chemotherapy) thì than thở cái gì!

     Thật ra, mặc dầu nhờ có sự yểm trợ tinh thần vô giá và vô giới hạn của vợ con, của thân bằng quyến thuộc nhưng Phương Triều vẫn phải đứng tấn thật vững để "chơi tay đôi" với kẻ địch "tuyệt chứng nan y". Ráng gượng để an ủi và giữ vững tinh thần vợ con, nhưng vẫn cảm thấy cuộc chơi càng lúc càng gay go. Nhiều lúc rất là oải, giống như con gà nuốt dây thun mà vẫn ráng gáy!

     Cô cháu MH. Hoài Linh Phương ở Minnesota lâu lâu được tin dữ "Chú đã đi rồi!".

Ôi, tấm lòng của những thân hữu và bằng hữu! Tôi có cái may mắn là từ hồi bước vào đời tới nay luôn luôn gặp được những người bạn tốt. Vũ Uyên Giang và MH. Hoài Linh Phương vẫn cho rằng Phương Triều được nhiều người thương vì Phương Triều rất là "ba phải", cùng môn phái "Huề Vốn" với Lâm Tường Dũ. Tiếng Tây tiếng U gọi môn phái nầy là "Nớp Xà Va Đít" (9 Bỏ Làm 10).

°

SÀIGÒN, NHỊP ĐẬP NHỚ THƯƠNG CỦA DÂN TRỜI BIỂN

Thế hệ tôi từ sau năm 1975 có nhiều người trở thành Dân Trời Biển. Tôi nói ba tiếng nầy theo nghĩa đúng chớ không bóng gió. Chúng tôi, những người đang ở góc biển chân trời.

Những ngày cuối năm, nghĩ đến cái Tết là chúng tôi nhớ hai tiếng Sàigòn. Sàigòn là nhịp đập nhớ thương của Dân Trời Biển.

Em ạ, Sài Gòn như núm ruột

Như con xa mẹ nhớ từng đêm

Nhớ khu Thương Xá. Chiều Lê Lợi

Nhớ bến đò ngang quá Thủ Thiêm.

(Song Nhị)

Một đoạn thơ của Song Nhị, một góc Sàigòn đủ gợi lên một trời kỷ niệm. Trước 1975, Sàigòn đã không còn là đất riêng của dân địa phương hay dân Nam Kỳ Lục Tỉnh. Sàigòn là nơi tụ hội của tao nhân mặc khách, của hào kiệt tứ phương, của đồng bào gốc ba miền Nam Trung Bắc. Người gốc miệt vườn miền Nam, gốc miền Trung, gốc miền Bắc đã sống thuận thảo với nhau, góp tay xây dựng Sàigòn thành một thành phố văn minh trù phú. Những người đó, bây giờ ở bất cứ nơi đâu vẫn nhớ Sàigòn.

Và, nếu thiếu Sàigòn, người ly xứ sẽ không thể nào thấy được mùa xuân:

như thu về ghé ngủ ở hồn ta

để hoàng hôn gợn chút nắng quê nhà,

trong vũng sáng thoáng niềm vui xứ lạ!

đã tàn đông sao chưa thấy xuân qua?!

(Đỗ Bình)

và:

Rồi mai, rồi mốt, rồi sau nữa

cuộc hẹn trăm năm có vẹn thề

con nước phù sa lồng sắc nhớ

lãng đãng tinh cầu nắng ủ ê.

(Phan Bá Thụy Dương)

Đọc thơ Phan Bá Thụy Dương, tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ người bạn đồng nghiệp cũ: ký giả Phan Bá Thuần Hậu (bào huynh của Phan Bá Thụy Dương) tức Anh Thuần, một phóng viên chiến trường quả cảm từng lăn lóc trên nhiều chiến trường sôi động. Qua bài viết của Trần Tuấn Kiệt, tôi được biết Anh Thuần đã mất cách đây 8 năm tại Nhựt.

Tôi không cố tình gặm nhấm những nỗi buồn. Nhưng từ bao nhiêu năm nay những mất còn của thân bằng quyến thuộc không thể nào không xao xuyến. Đêm ở đâu cũng đen nên đêm ở đâu cũng cần có một ngọn đèn.

Vũ Tiến Lập nói, "có một ngọn đèn không bao giờ tắt"...

     ý chừng như thấu hiểu một điều gì

     thành đô rúc ran tiếng cười khoái lạc

     trong lòng đêm què quặt

     em nói với tôi

     về mầu nhiệm

     sự cô đơn

     cùng cực của con người

     không một chỗ nương thân

 

     này em

     trên muôn vàn lẽ sống

     có một ngọn đèn không bao giờ tắt

     giữ lấy

     để thắp sáng đường về

     (Vũ Tiến Lập)

Thơ không bao giờ là sáo ngữ. Thơ làm cho sự thật thăng hoa.

 

     PHƯƠNG TRIỀU

 

     DUNG NHAN BẰNG HỮU

 

     Đêm thắp đèn bắt muỗi

     Đuổi rệp khỏi tiệc người

     Dấu bầm trên da thịt

     Là hoa hồng cuộc chơi!

 

     Chơi một đời thí mạng

     Tỉ như thí mạng cùi!

     Vớt niềm vui thất thiệt

     Cho một lần xả hơi!

 

     Có khi nào buồn bã

     Ngồi nhìn nhau bốc hơi?

     Tuổi vàng trên lửa ngọn

     Long lanh mắt cỏ cười...

 

     Gió lay hồn nhựt nguyệt

     Lá rụng giữa sân người

     Đêm võ vàng xác mộng

     Mây trắng biển mù khơi!

 

     Rọi dung nhan bằng hữu

     Còn đâu mấy mặt cười!...

 

     PHƯƠNG TRIỀU