Phương Pháp Dưỡng Sinh ĐIỆN CÔNG PHATHATA

                                                                                                    Nguyễn Tuấn

 

              Các phương pháp dưỡng sinh đang được phổ biến hiện nay hầu như đều xuất phát từ những quốc gia lớn và có truyền thống văn hóa lâu đời như Trung Hoa và Ấn Độ. Tuy nhiên gần đây tại Việt Nam xuất hiện một phương pháp dưỡng sinh mới, thuần túy Việt nam. Đó là phương pháp Điện Công PHATHATA.

              I – Định danh và quá trình hình thành.

                   A – Định danh.

                          “Điện Công PHATHATA” là tóm gọn của cụm từ “Linh Điện Công Thông Pháp Thân Tâm”. Đây là những phương pháp tập luyện thân thể, tâm lý nhằm khai thông nguồn điện Tâm thể (hay Chân khí) làm bật lên khả năng Tự chỉnh (hay Siêu Thức). Khả năng linh diệu này giúp chúng ta phát triển các tiềm năng, tự điều chỉnh các mâu thuẫn, xáo trộn tạng phủ, tự thích ứng với nhịp sinh học, tự bảo trì sự sống và cuối cùng là thăng hoa bản thân, giao thoa với vô cùng. Luyện tập phương pháp dưỡng sinh Điện Công PHATHATA giúp con người được khỏe mạnh, tự chiến thắng bệnh khổ, tự tại trong tình cảm và tự chủ mọi hiểu biết.

              Điện Công PHATHATA chia ra làm 5 ngành :

-           Ngành Thể Dục Thân Tâm : Gồm những chương trình tập luyện cho những người 

khỏe mạnh nhằm mở rộng tình thương, củng cố dũng khí và hưng phấn trí lực.

-           Ngành Dưỡng Sinh Phòng Trị : Gồm những chương trình huấn luyện cho người cao

tuổi, tiếp trị bệnh kinh niên.

-           Ngành Tiếp Trị : Gồm những thủ pháp để cắt cơn đau, sơ cứu người bệnh để kịp

thời đưa tới các cơ quan chức năng điều trị.

-           Ngành Vui Sống : Gồm những vũ điệu, trò chơi, thơ vui mang tính thể dục thư giãn,

đem lại niềm vui, sức khỏe cho đại chúng.

-           Ngành Khoa Học Thông Linh : Nghiên cứu những phương pháp đánh thức tiềm

năng của con người, kết hợp Đạo học và Khoa học.

              B – Quá trình hình thành.

                   Người đưa ra phương pháp này là nhà thơ Phạm Thiên Thư tác giả của những tác phẩm trước năm 1975 như : Động Hoa Vàng, Ngày Xưa Hoàng Thị, Đoạn Trường Vô Thanh, Kinh Ngọc  v.v.. Ông Phạm Thiên Thư sau năm 1975 bị suy sụp tinh thần nặng đồng thời mắc nhiều thứ bệnh như sốt rét, đau dạ dầy, thấp khớp … Khoảng giữa thập niên 80, do cơ duyên đặc biệt, ông đã khám phá ra khả năng nhân điện của cơ thể rồi vận dụng tự chữa khỏi bệnh cho mình. Ông trở nên khỏe mạnh, yêu đời và hăng say làm việc. Từ kinh nghiệm bản thân, ông giúp bạn bè, bà con thân thuộc thực tập phương pháp dưỡng sinh mới này. Ông gọi phương pháp đó là Điện Công PHATHATA. Ông tổ chức các buổi tập. Mỗi buổi tập có cả trăm người tham dự. Nói chung, đa số các học viên tham dự những lớp huấn luyện phương pháp dưỡng sinh mới này, đều cảm thấy khỏe mạnh, ăn ngon, ngủ yên, lạc quan yêu đời, một số trường hợp khỏi hẳn bệnh mãn tính, một số ít tự nhiên  nảy sinh khả năng đặc biệt.

                   Ông Phạm Thiên Thư đã truyền bá phương pháp dưỡng sinh mới này đến các tỉnh thành và vùng nông thôn. Sau đó, ông thử nghiệm chữa bệnh AIDS. Tuy đã thấy thành công trong vài trường hợp, nhưng những thành quả này chưa được giới y khoa xác nhận.

              II – Luận điểm cơ bản của môn Điện Công PHATHATA.

                A – Quan niệm về vũ trụ.

                        PHATHATA quan niệm rằng mọi vật được kết thành qua 5 dạng cách (hay Ngũ Thể Lý). Đó là Hội (tức cách kết cấu), Khí, Đặc, Lỏng và Tưởng. Trong vũ trụ, tạo vật vận hành theo hai nguyên lý : nguyên lý qui nhất và nguyên lý dung hóa. Nguyên Lý Qui Nhất là hướng cơ bản, tổng quát, thu về (qui), bảo vệ cấu trúc riêng biệt (nhất) của từng thể loại. Nguyên Lý Qui Nhất giữ được từng trật tự riêng rẽ vì có 5 yếu tính (hay Ngũ tiến Độ) ẩn tàng trong mỗi sự vật. Năm yếu tính đó là tính Đại Đồng, tính Toàn Triển, tính Điều Hòa, tính Hợp Hóa và tính Tự Chỉnh. Theo Nguyên Lý Dung Hóa, các sự vật kết hợp những cái riêng thành cái chung, từ đơn tới đa, từ trực tiếp tới gián tiếp, thăng hoa nhiều tầng tạo thành một thực tại Qui Dung Nhất Hóa. Do đó mỗi vật vẫn giữ được trật tự riêng rẽ trong mối tương quan chằng chịt của vũ trụ.

                   Các sự vật trong vũ trụ tương tác nhau theo nguyên lý dung hóa hình thành hai mặt là chủ thể tác động và khách thể bị động để thành hợp thể “chủ-khách” tương tác theo 5 cơ chế phổ biến tức Ngũ Đại Cơ là : Bình, Phát, Phân Lợi, Hao :

                         Chủ Chỉnh Tắc Bình – Dĩ Đồng Vi Bản

                         Chủ Hoà Tắc Phát -  Phân Vi Lưu

                         Chủ Nghịch Bình Phân – Dĩ Cộng Vi Trường

                         Chủ Cường Tắc Lợi – Dĩ Thất Vi Tồn

                         Chủ Thiểu Tắc Hao – Dĩ Nhược Vi Cường

                B – Quan niệm về con người.

                        Con người là một sinh vật cao cấp, một kiến trúc tinh vi nhất của ngũ thể lý. Cơ thể con người có khả năng vận động cải thiện (tính Toàn Triển) dẫn đến quân bình nội tạng (tính Điều Hòa), chuyển hóa nội giới và khắc phục ngoại giới (tính Hợp Hóa), đưa tới khả năng tự bảo vệ mức ổn định toàn diện, duy trì sự sống (tính Tự Chỉnh) theo một nhịp độ tiên thiên (tính Đại Đồng).

                        Đời sống con người là sự kết hợp giữa Bản Ngã (Qui Nhất) với gia đình, xã hội, thiên nhiên (Dung Hóa), sau, trước, chung quanh. Bản ngã đó là một hợp thể giữa cái Thân và cái Tâm qua Năm Dòng Sống (tức Ngũ Đại Cơ Sinh : Hội Sinh, Hành Sinh, Tình Sinh, Cảm Sinh, Thức Sinh) bất khả chia lìa – một mà là năm – năm mà là một toàn bộ. Nói rộng ra, Bản Ngã với Vũ Trụ cũng như t61 bào với cơ thể, tuy nhỏ lớn khác nhau nhưng luôn tương tác, toàn triển lẫn nhau trong hai cơ chế siêu hình và hữu hình như một toàn thể hữu cơ, không có cái riêng tất không có cái chung.

                        Con người tương quan với vũ trụ và nhân quần xuyên qua vận động của Thân, Tâm và Trí nhờ các dạng năng lượng mang tính dẫn truyền gọi chung là Điện. Vận động của Thân, Tâm và Trí phát sinh ra các dạng năng lượng tương ứng gọi là Thể điện, Tâm điện và Trí điện. Con người có thể ví như một cục pin (battery) tự phân cực âm dương qua hai bàn tay. Khi điện tích cao thì lượng điện tâm thể càng mạnh, có thể tự đả thông kinh mạch khiến cơ thể khỏe mạnh. Các phép tu luyện đông phương đều giới hạn việc tiêu hao tâm điện, trí điện (ngôn vong, lự tuyệt) đồng thời tập trung điện năng vào một điểm như thuật thôi miên, tập khí công, hoặc thiền công án, lần tràng hạt … Trong lao động, sáng tạo, điện tập trung bằng lòng yêu thích, say mê. Chính vì thế mà người thợ yêu nghề làm việc quên cực nhọc, nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, nhà khoa học v.v. sáng tác, nghiên cứu không biết mỏi mệt.

                        Hoạt động của Thân và Tâm luôn luôn gắn liền nhau trong đời sống con người. Thân và Tâm có thể tự điều hòa, và phát triển nhờ một khả năng bẩm sinh, kỳ diệu gọi là Tính Tự Điều Chỉnh hay Siêu Thức. Một khi cơ cấu thiếu tự chỉnh do rối loạn nội môi hay do ngoại cảnh gây xáo trộn thì phát sinh bệnh hoạn kể cả Thân bệnh, Tâm bệnh và Trí bệnh. Một khi lập lại được sự quân bình, nội môi được ổn định và thích ứng được với những biến động thì thân thể khỏe mạnh, đào thải mầm bệnh, anh vui, sáng suốt, khai mở tiềm năng và trí tuệ.

                        Mọi nỗ lực tu dưỡng theo quan điểm đông phương từ tập luyện, ẩm thực, đến điều trị bằng thuốc men, đều nhằm khai thông bế tắc, giúp cơ thể ổn định nội mô, lấy lại tự chỉnh. Vì thế, một phương pháp thể dục hoàn chỉnh phải đồng thời kết hợp giữa Thân và Tâm qua động tác và ám thị tốt đẹp. Khi một lời nói, một ý nghĩ hoặc một hình ảnh được lập lại nhiều lần sẽ ám thị, trở thành sức mạnh tâm lý. Nếu lấy sự quyết tâm, sự hiểu biết (Trí lực) tự chiến thắng bệnh khổ, phát ý thiện đến gia đình và xã hội, giải trừ những căng thẳng (Tâm lực), rèn luyện thân thể (Thể lực) và kết hợp với Y Dược Đông Tây thành một sức mạnh tổng hợp chắc chắn bạo bệnh sẽ bị đẩy lui.

              III – Phương Pháp Tập Luyện.

                        Nếu phần “lý thuyết” của môn dưỡng sinh Điện Công PHATHATA tương đối phức tạp thì phần thực hành lại rất đơn giản, ai tập cũng được và tập lúc nào cũng được.

              Phần thực hành được chia làm 5 dạng :

                        1 – Thể Điện Công Phu : Gồm những bài tập nhằm khai thông xung điện thần kinh,

ổn định trật tự nội môi và thần kinh.

                        2 – Tâm Điện Công Dung : Gồm những bài tập nhằm hài hòa tình cảm, giới hạn các kích động tâm lý xã hội, giúp con người vui sống, xã hội tốt đẹp.

                        3 – Trí Điện Công Minh : Gồm những bài tập nhằm phát triển tiềm năng trí tuệ, vận dụng đúng và tốt các lượng thông tin.

                        4 – Trường Điện Công Hóa : Gồm những việc làm từ thiện, xây dựng xã hội.

                        5 – Linh Điện Công Thông : Nghiên cứu các bí pháp của nhân loại, khai mở chân lý, vận dụng tiềm lực vũ trụ để phục vụ con người.

              Trong mỗi bài tập của phương pháp dưỡng sinh PHATHATA đều có kèm theo phần ám thị. Tuy nhiên ám thị trong các bài tập chỉ là gợi ý, người tập có thể tự chọn lấy ám thị để niệm thầm theo động tác thể dục của mình miễn là các ám thị đó phù hợp với 3 hướng sau :

a)         Hướng Vô Ngã nhằm mở rộng tình thương đến mọi người.

b)         Hướng Vô Minh nhằm phát triển óc lý luận, tổ chức, thẩm mỹ … và phát triển

tính nhân  nghĩa, giải trừ tật duy ngã.

c)         Hướng Vô Úy nhằm loại bỏ tính rụt rè, sợ hãi và trở nên có dũng khí.

              Môn dưỡng sinh Điện Công PHATHATA có nhiều pháp tập khác nhau, ở đây chỉ nêu hai bài tập cơ bản là : Chúc Lành và Hoàn Nguyên Diệu Lực

              A – Chúc Lành ( hay Thân Sơ Thiện Chúc).

                        Có thể tập pháp này lúc nào cũng được nhưng nếu được lúc yên tĩnh như sáng sớm hoặc buổi tối trước khi đi ngủ thì càng tốt.

-           Hành giả có thể đứng thẳng hoặc ngồi trên ghế (lưng thẳng, chân buông thõng)

hoặc ngồi bán già, kiết già đều được hết.

-           Nhấm đầu lưỡi.

-           Hai bàn tay đan ngón vào nhau và để ngửa sát trước bụng.

-           Mắt khép hờ.

              Sau khi đã chuẩn bị tư thế xong, hành giả tập trung tinh thần, tưởng tượng ra khuôn mặt những người thân quen từ gia đình, bà con đến bạn bè, hàng xóm v.v. rồi nhìn họ với đôi mắt thân ái nhất đồng thời đọc thầm, liên tục chữ “Lành”. Chúc hết người nọ tới người kia, càng nhiều người càng tốt.

              Chúc xong rồi thì nghỉ. Nếu cùng tập với nhiều người và có hướng dẫn viên thì có thể lắng nghe ám thị do hướng dẫn viên đọc chậm 5 lần :

                   Ai cũng thọ thương cả

                   Ai cũng đáng thương nhiều

                   Chớ nhìn nhau xa lạ

                   Mà nhìn nhau thương yêu

 

                   Dù là người thấp kém

                   Dù là người cao siêu

                   Tật bệnh cùng khổ ách

                   Chẳng khác nhau bao nhiêu

 

                   Nên nhường cơm xẻ áo

                   Nên chia đồng làm đều

                   Sống một vừa hai phải

                   Biết cho rõ một điều :

                   Thân bệnh cùng tâm bệnh

                   Tự chỉnh thì nạn tiêu

 

              B – Hoàn Nguyên Diệu Lực.

                   Bài này gồm 3 pháp :

               1 – Pháp Tự Động (hay Vô Vi Tự Chỉnh)

                        - Hành giả đứng hoặc ngồi thẳng lưng, không tựa lưng vào ghế (luyện đứng thì tốt nhất).

                        - Hai bàn tay chắp hờ trước ngực cách nhau độ 1-2 cm, hai nách mở rộng.

                        - Mắt nhắm để tập trung.

                        - Nhấm đầu lưỡi.

                        - Từ từ đẩy hai bàn tay ra xa nhau khoảng 1 mét.

                        - Từ từ kéo hai bàn tay lại gần nhau và khép hờ trước mặt như cũ.

              Lập lại động tác trên khoảng 10 lần. Nếu thấy các ngón tay như tê tê hoặc tự động mở rộng, hoặc tự động hút đẩy nhau như nam châm, hoặc thân thể lắc lư, chuyển động v.v. thì để nguyên cho thân thể, tay chân tự chuyển động đồng thời đọc thêm nhiều lần ám thị “Minh-Minh-Minh … “ (nghĩa là sáng) hoặc bất kỳ một âm thanh nào khác cũng được để tập trung tư tưởng …

              Nếu chưa thấy thân thể nhúc nhích thì lại dang tay ra và lập lại động tác trên 10 lần nữa. Sau đó dừng tay để cảm nhận thể tự động. Làm khi nào thành công thì thôi. Thời gian từ lúc chắp tay trước ngực tới lúc cơ thể tự chuyển động thay đổi lâu mau tùy người. Khi cơ thể đã bắt đầu chuyển động thì đừng gồng cứng tay chân cưỡng lại, cứ để cho cơ thể tự vận hành miễn là đừng để bị ngã. Nếu tập đông người có hướng dẫn viên thì hành giả lắng nghe ám thị sau đây do hướng dẫn viên đọc chậm và rõ.

-           Quân bình sinh điện tâm thể; thông kinh hoạt lạc

-           Giải tỏa mọi rối loạn bế tắc, thuyên giảm bệnh khổ

-           Yêu đời lạc quan, ăn ngon ngủ yên

-           Tiêu hóa thông suốt,. Khai mở tình thương và trí tuệ.

              2- Pháp Điều Động (hay Vô Bệnh Thái Hòa)

              Khi luyện tập Vô Vi Tự Chỉnh đã nhuần nhuyễn nghĩa là cơ thể tự động vận động, di chuyển một cách dễ dàng không phải do mình cố ý di chuyển thì hành giả có thể mở mắt, xuôi tay khởi ý ra lệnh cho tâm thể tự điều trị bệnh tật hoặc thực hiện những việc khác. Ý thức chỉ gợi ý cho tâm thể tự hoạt động, không cần tập trung. Có thể vừa luyện tập vừa nói chuyện vẫn hiệu quả như thường.

              Tập pháp Tự Động nhiều có thể tăng lực điện, chống lại mầm bệnh và giúp thuốc kháng sinh tăng thêm hiệu quả. Tuy nhiên, người bị bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia), hoặc người hay mê tín không nên tập pháp này.

              3 – Pháp Mở (hay Như Ý Huyền Thông).

              Khi hành giả đã luyện tập các pháp trên thành thục rồi, tâm hồn rộng mở, thân thể khỏe mạnh thì có thể khai mở tiềm năng kỳ lạ của con người mà nền đạo học xưa gọi là Thần Thông hay Pháp Thuật. Bình thường nếu chỉ cần được tinh thần sáng suốt, thân thể khỏe mạnh thì không cần tập pháp này vì nếu không được người có đầy đủ kinh nghiệm, công phu hướng dẫn thì có thể bị “tẩu hỏa nhập ma” như một số người tu theo lối tu tiên hoặc tu thiền không đúng chánh pháp mắc phải khiến con người trở nên bất bình thường, cực đoan, mê tín, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ.

              Mỗi lần tập pháp Hoàn Nguyên Diệu Lực này khoảng 15-20 phút tùy hành giả. Thường tốt nhất là để cho cơ thể tự nghỉ. Cần chú ý là khi tập phải luôn tỉnh thức, theo dõi sự chuyển động của cơ thể chứ không điều khiển những chuyển động đó. Nếu thấy cơ thể chuyển động mạnh, có thể ngã thì tạm thời ngưng không tập nữa. Tập pháp Hoàn Nguyên rất đặc biệt này của PHATHATA có thể giúp cơ thể quân bình với nhịp sinh học bên ngoài, bảo vệ tính tự chỉnh, tăng sức đề kháng, giảm thiểu nguyên nhân xáo trộn nội tạng để bảo vệ đời sống con người.

              Người mới tập phương pháp dưỡng sinh PHATHATA này không nên quá mê tập hoặc lười tập mà nên điều độ mỗi ngày. Khi cơ thể khỏe mạnh rồi thì nên bớt tập Hoàn Nguyên đi, một tuần chỉ tập 3 lần là đủ. Còn pháp Chúc Lành thì luyện càng nhiều càng tốt.

                                                                                 *

                                                                              *     *

              Tri kiến con người mỗi ngày một tiến bộ, rộng mở từ chỗ đang biết (Đương thức) đến chỗ chưa biết (Vị thức). Điện Công PHATHATA là một phương pháp dưỡng sinh mới, cần nhiều thực nghiệm kiểm chứng và đóng góp xây dựng của nhiều người để ngày một hoàn thiện và đặt nền móng cho thế hệ mai sau. Ông Phạm Thiên Thư thường nói “Tôi – kẻ tài sơ sức thiểu, chỉ có tấm lòng – rất mong được các bậc thầy, lương sư cùng quí bằng hữu chỉ giáo và bổ túc cho những chỗ thiếu sót để chung xây ngành Dưỡng Sinh Dân Tộc thêm phong phú, làm tốt việc bảo vệ sức khỏe đồng bào”. Vì thế mọi người theo học môn dưỡng sinh Điện Công PHATHATA đều biết rõ Ngũ Đại Chỉ Yếu tức năm ám thị cơ bản dùng làm yếu chỉ để tập luyện Phathata ứng với 5 đại cơ là :

                        Luôn biết mình dốt

                        Để gột tính kiêu

                        Để yêu như mới

                        Để cởi mối hiềm

                        Để thêm tinh tiến

 

              Tài liệu tham khảo :

                        1 – Phạm Thiên Thư, Thể Dục Thân Tâm Điện Công Phathata (Chương Trình Phổ Cập), 1997

                        2 – Phạm Thiên Thư, Tiên Dung Liệu Pháp, 1993

                        3 – Phạm Thiên Thư, Tiếu Liệu Pháp, Tài liệu thể dục thần kinh, 1991

                        4 – Phạm Thiên Thư, Vận Dụng Lý Luận Với Thực Tiễn Trị Liệu Qua Vũ Trụ Nhân Sinh Theo Quan Điểm Phathata, 1990

                        5 – Phạm Thiên Thư, Phương Pháp Luyện Tập Điện Công Dưỡng Sinh Phathata, 1990