CHỮ TÂM KIA MỚI BẰNG BA CHỮ
TÀI
Ðàm Trung Phán
Khi còn học Trung Học, tôi rất
thích mấy câu thơ dưới đây trong Truyện Kiều của Cụ Nguyễn
Du:
“Có tài mà cậy chi
tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một
vần
Ðã mang lấy Nghiệp vào
thân,
Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời
xa.
Thiện căn ở tại lòng
ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tàì
“
Thú thực là hồi đó, tôi chỉ cảm
nhận thấy rằng tôi rất “gần gũi” với những câu thơ này nhưng thực sự tôi chưa
thật thấu hiểu và cho đến bây giờ
với những kinh nghiệm đã sống trên 60 năm cuộc đời, tôi mới thấy “thấm” được ít
nhiều những gì mà Cụ Nguyễn Du đã viết.
Tôi đã khôn lớn, ra trường rồi
đi “vật lộn” với cuộc sống. Trong đời đi dậy, tôi đã có cái may mắn được gặp rất
nhiều học trò thuộc các mầu da, tôn giáo và tuổi tác khác nhau để tôi quan sát
và học hỏi từ chính họ. Hai đồng sự Canadian và tôi thường hay bàn cãi với nhau
về nhiều đề tài khác nhau, nhất là những đề tài liên quan tới vấn đề Giáo
Dục.
Chúng tôi cùng dậy trong Phân
Khoa Kỹ Thuật tại một Community College ở Canada, vì vậy mà chúng tôi đã từng
dậy chung một số sinh viên trong những môn học khác nhau . Học lực và hạnh kiểm
của học trò do đó mà chúng tôi cũng đều biết rõ. Thoạt đầu, chúng tôi lấy làm
ngạc nhiên thấy một số học trò khi còn đi học đã được điểm rất cao nhưng sau khi
ra trường và đi làm, họ lại rất là lẹt đẹt trong vấn đề “thăng quan tiến chức”,
không những như vậy mà một số còn bị mất việc luôn. Tôi còn nhớ rõ khoảng đầu
thập niên 80, có một anh chàng - tạm gọi tên là Les Hart - hay vặn lý sự với tôi
là tại sao anh ta lại mất điểm (nhỏ thôi) trong các bài Assignments. Tôi đã giải
thích cặn kẽ và cho hắn coi các “solution with marking scheme” của tôi. Chứng
nào, tật nấy, một hôm tôi đang bận giảng bài trong lớp, anh chàng còn gây sự và
to tiếng với tôi về cái vụ mất điểm. Tôi ngưng việc giảng bài và tôi “giảng” cho
anh chàng một bài học về cách xử thế. Tôi nói:
-
Nếu “you” không
thay đổi được cái thái độ của “you” khi cư xử với những người xung quanh “you”,
tôi sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy “you” bị “fired” khi you đi làm! Tôi
không chịu nổi cái tính hay bắt bẻ và thích ăn người của “you” lắm rồi!”
Khi tôi nói xong, tôi không ngờ
cả lớp đều đứng lên vỗ tay đôm đốp và sau giờ học, một vài sinh viên ở lại lớp
và nói với tôi:
-
Well said and thank
you, Sir!
Họ còn cho tôi biết là anh
chàng Les Hart này đã từng “làm mưa, làm gió” với các vị giáo sư khác và làm mất
thì giờ của các đồng môn trong giờ học.
Hai năm sau khi Hart đã ra
trường, một người học trở về lại trường thăm chúng tôi và anh ta cho
biết:
-
Thầy biết không?
Ðúng như lời Thầy nói ở trong lớp, Les Hart đã cùng làm chung tại Office với em
nhưng đã bị Boss cho nghỉ việc rồi vì cả sở không ai chịu nổi được với hắn. Thật
là tiếc, Thầy ơi vì Les nó rất thông minh nhưng lòng dạ lại chẳng ra
gì!
Tôi nghĩ ngay đến hai câu thơ
của cụ Nguyễn Du:
Có tài mà cậy chi
tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một
vần
Ba đồng sự chúng tôi vẫn tiếp
tục theo dõi học trò từ lúc họ còn đi học cho tới khi họ ra đời làm việc. Thế
rồi, đầu thập niên 90, chúng tôi rất vui thú được đọc trên tờ Time Magazine một
bài viết về “Emotional Intelligence” (EQ) mà
tôi tạm dịch là “Thông Minh Xúc Cảm ” (để đối nghịch lại với “Intelligence
Quotient”, IQ, mà tôi tạm dịch là “Thông Minh
Trí Tuệ”).
Vậy thì Thông Minh là
gì?
Theo tự vị Encarta, “Thông
Minh” là danh từ mô tả khả năng của Trí Tuệ về lý luận, về giải quyết các vấn
dề, về lối suy nghĩ trừu tượng, về học hỏi và hiểu biết những thứ gì mới lạ cũng
như biết rút tỉa từ những kinh nghiệm (Intelligence: term usually referring to a general mental capability
to reason, solve problems, think abstractly, learn and understand new material,
and profit from past experience).
Các nhà trường
ngày xưa thường đánh giá rất cao và chú trọng đến IQ trong các địa hạt của khả năng sinh ngữ
(linguistic), lý luận (logical), toán học (mathematical). Giáo Sư Howard Gardner
trong Phân Khoa Giáo Dục của Ðại Học Harvard cho rằng con người còn có những tài
năng (gifts) khác như tài năng sáng tác của các nhà văn, kiến trúc gia, nhạc sĩ,
người sáng tạo kiểu mẫu (designers), vũ công (dancers), người buôn bán
(entrepreneurs), hay là bất cứ tài năng nào để giúp cho đời sống con người được
hoàn mỹ hơn.
Năm 1983, GS
Gardner đã là người tiền phong về Multiple Intelligences (tạm dịch là “Thông Minh Ða Dạng”). Ông
nêu ra 8 chiều thông minh hay tài năng dưới đây:
-
Tài
năng về Ngôn Ngữ (Linguistic Intelligence): Năng khiếu về ngôn ngữ, viết
lách
-
Tài
năng về Lý Luận-Toán Học (Logical-Mathematical Intelligence): Năng khiếu về phần
các con số -lý luận, toán học .
-
Tài
năng về Không Gian (Spatial Intelligence): Năng khiếu về hình ảnh và hội
họa
-
Tài
năng về các động tác động chuyển của thân thể ( Bodily-Kinesthetic
Intelligence): Năng khiếu về các động tác của chân tay, chạy, nhẩy
…
-
Tài
năng về âm nhạc
-
Tài
năng về cách xã giao (Interpersonal Intelligence) : Khả năng biết cách đối xử
với người khác (people smart)
-
Tài
năng Nội Xét (Intrapersonal Intelligence): Khả năng về biết cách tự đương đầu
với nội tâm và cách suy diễn từ nội tâm (self smart)
-
Tài
năng hiểu biết về Thiên Nhiên , Vạn Vật (Naturalist
Intelligence)
Community
College của chúng tôi đã khuyến khích các nhà giáo chúng tôi nên áp dụng các
phương cách của Multiple Intelligences trong các bài giảng dậy (Lecture notes),
các bài thi Tests (bài thi trong Cá Nguyệt, Term) và Final Exams (bài thi cuối
Cá Nguyệt, Term) để Ban Giảng Huấn chúng tôi thực sự “measure” (lượng sức) được
học lực của học trò.
Việc bàn cãi về
Thông Minh vẫn tiếp tục. Năm 1986, 25 nhà khảo cứu rất thông thái về đề tài
“Thông Minh” đã cho rằng Thông Minh của con người bao gồm các lãnh vực như: -
khả năng về cách ứng xử với các vấn đề nan giải mới có trong cuộc đời (general adaptability to new
problems in life) ; - khả năng suy nghĩ trừu tượng (ability to engage in
abstract thinking) ; - biết cách ứng biến trong mọi hoàn cảnh (adjustments to
the environment); - khả năng trí tuệ
và khả năng hiểu biết những
gì đã có (capacity for knowledge and knowledge possessed); - khả năng biết tự
tập, suy nghĩ độc đáo và hiệu nghiệm trong suy tư (general capacity for
independence, originality, and productiveness in thinking); - biết cách tạo thêm
khả năng (capacity to acquire capacity); - thấu triệt các mối liên quan thích
đáng ( apprehension of relevant relationships); - khả năng biết xét đoán, thấu
hiểu và suy luận (ability to judge, to understand and to reason) - khả năng suy
diễn các mối tương quan ( deduction of relationships); - khả năng thiên bẩm về
nhận thức tổng quát (innate, general cognitive ability).
Người Tây Phương đã quan niệm
rằng họ có thể “đo lường” được trí thông minh con người qua cách khảo nghiệm (
IQ test - tạm dịch Intelligence Quotient là
“Thương Số Thông Minh Trí Tuệ”) và nhiều người thường cho rằng những người có IQ
cao thì sẽ thành công khi đi học cũng như khi đi làm.
Cho mãi tới thập niên 90, các
nhà khảo cứu khoa học nhân văn tây phương mới thấy là phần “Thông Minh Xúc Cảm”
(Emotional Intelligence- viết tắt là EI- được
đo lường qua Emotional Quotient- viết tắt là EQ- tạm dịch là “Thương Số Thông Minh Xúc Cảm”) mới
giúp con người đi đến thành công hơn trong công ăn, việc
làm.
Có trí khôn (Intellectual
Intelligence) vẫn chưa đủ, nhất là khi ra đời làm việc và theo sự nhận xét của
GS Daniel Goleman thuộc Ðại Học Hardvard thì lòng ganh tị, bực tức, buồn rầu, lo
sợ, thắc mắc, khắc khoải … thường ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống của con
người. Có nhiều người mặc dù phần trí tuệ (IQ)
rất cao nhưng đến khi phải đương đầu với các vấn đề tình cảm khó xử, họ lại hoàn
toàn mù tịt chẳng biết cách ứng xử ra sao hết. Nhiều người đã phải đi đến ly dị,
sức khỏe tâm thần của họ bị bê bết và còn có nhiều người đã tự tử
luôn.
GS Goleman đã lên tiếng để cho
mọi người biết những gì mình cần biết về chính mình để tránh những tai họa về
sau. Ông kêu gọi nhà trường nên dậy học sinh những căn bản về EQ ,
“Thông Minh Xúc Cảm .”
EQ bao gồm những gì? GS Goleman nêu lên 5 điểm chính sau
đây:
1.
Tỉnh Thức (Self
Awareness): Mình nên biết lòng mình (emotions) và những cảm nhận (feelings) mà
mình đang có.
2.
Nỗi vui buồn (Mood Management): Cần biết
cách đương đầu với những cảm nhận (feelings) đang xẩy ra để có thể đối phó và tự
kiềm chế đúng lúc.
3.
Ý đồ ( Self
motivation): Cần gom góp lại những cảm nhận (feelings) đang hiện hữu và đưa
chúng tới một mục tiêu (goal) rõ rệt mặc dù mình đang trù trừ (self doubt), trì
trệ (inertia) , hoặc đang hành động bốc đồng (impulse)
4.
Giao cảm (Empathy):
Cần phải nhận biết được những cảm nhận (feelings) của người khác và tác động lại
bằng ngôn từ (verbal cue) hay cử chỉ (non verbal cue) cho đúng
cách.
5.
Cách Giao Tiếp
(Managing Relationships): Cần có cách ứng xử (interpersonal interaction) cho hợp
lý, hợp tình, biết cách hòa giải (conflict resolution) và thương lượng
(negotiations).
GS
Goleman còn cho biết “Thông Minh Xúc Cảm” không những giúp cho con người tránh
được các hậu quả tai hại mà còn giúp cho con người sống hài hòa, an vui với
vợ-chồng-con cái và thành công ngoài đời nữa. Ðiều đặc biệt là con người có thể
học thêm và phát triển phần “Thông Minh Xúc Cảm” này nếu họ biết cách. Nếu không
biết cách duy trì nó, con người sẽ còn giảm mất phần EQ nữa
Nói
tóm lại, nhờ có “Thông Minh Trí Tụê” (IQ) mà
con người có thể học hành dễ dàng hơn nhưng như vậy vẫn còn chưa đủ. Ðó mới là
phần “Trí”. Con người cần phải có thêm phần “Thông Minh Xúc Cảm” (EQ) thì mới biết cách ứng xử và thăng tiến kể từ khi
bắt đầu đi học cho tới khi ra đời làm việc và về hưu. Các lãnh tụ, các chính trị
gia thường có cả IQ lẫn EQ rất cao. Họ có thể rất là không ngoan, đức độ mà họ
cũng có thể rất là gian hùng và tàn ác.
Cả
IQ và EQ không
đặt trọng tâm vào vấn đề Ðạo Ðức của con người. Cái nguy hại là trên thế giới
hiện nay, nhà trường đã quá lơ là đến các vân đề thuộc về phần “Công Dân Giáo
Dục” cho nên học trò đôi lúc rất là … khó dậy vì họ chỉ nghĩ đến các lợi lộc cho
riêng cá nhân họ và nhiều lúc họ đã thiếu mất phần căn bản của “Tiên học lễ, hậu
học văn”!
Thiện căn ở tại lòng
ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ
Tài
Sang
đến Thế Kỷ 21, người Âu Mỹ đã “đi thêm một bước nữa”: họ cho ra đời phần thông
minh mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Tâm Linh” (Spiritual Intelligence, viết tắt
là SI và được đo lường qua Thương Số Thông Minh
Tâm Linh - Spiritual Intelligence Quotient viết tắt là SQ).
IQ có
thể ví như là phần thông minh của máy điện toán Computer, EQ là phần thông minh của loài người và vài loài động
vật có vú thượng đẳng (mammals), trong khi đó SQ (Spiritual Quotient) thì chỉ loài người mới có
được mà thôi vì SQ liên quan đến phần Tinh Thần và Tâm Linh của con người. Các
nhà khảo cứu về Khoa Học Nhân Văn cho rằng phần SQ là phần căn bản nhất so với IQ và EQ. Con người
cần phải có phần “Thông Minh TâmLinh” này để phát triển lòng mong muốn tìm hiểu:
- về ý nghĩa của sự vật,- về sự việc nhìn xa trông rộng và - về chân giá trị .
Nhờ
có SQ mà con người có những ước mơ và cố gắng
đạt nguyện chúng. SQ đặt vấn đề về phần tâm
linh và vai trò của đạo giáo trong đời sống của con người.
Vì
“mới ra lò” sau năm 2000 nên tôi chắc là ít người đã biết đến SQ và SQ cũng đang
còn ở trong thời kỳ phôi thai nên chúng ta chưa thực sự thấy rõ được cái tầm vóc
và tương lai của SQ ra
sao.
Như
vậy người Tây Phương mới chỉ nói tới IQ, EQ, SQ nhưng theo
tôi nghĩ thì trên phương diện giáo dục họ chưa thực sự trú trọng để tâm tới phần
Ðạo Ðức qua chữ “Tâm” và chữ “Ðức”
trong văn hóa Việt Nam và Phật Giáo của chúng ta. Tôi cảm nhận được phần tinh
hoa về “Ðạo Làm Người” của tổ tiên Việt
Trong
bài viết này, tôi muốn dùng lối suy nghĩ của Tây Phương và Ðông Phương để giải
thích một vài điều mà chính tôi đã thấy tận mắt. Tôi cũng muốn đem so sánh quan
niệm của Việt
Theo tôi nghĩ, muốn
duy trì cái “Ðức”, con người cần có cái “Tâm” trong sáng (nói nôm na là “Tấm Lòng
tốt, đạo đức, trung thực, trong sáng, dễ dãi ...” trong tiếng Việt) để nhận diện
được sự việc một cách trung thực và luôn luôn để ý đến các hành động của chính
mình cho thích hợp với “Ðạo làm người” trong đời sống hàng ngày .
(Xin
kính mời Quý Vị bấm vào Website ở dưới đây để xem hình)
http://www.pbase.com/tamlinh/image/31974053
Theo Tự Ðiển Phật Giáo của Tác
Giả Ðoàn Trung Còn, chữ “Tâm được định nghĩa như sau:
“Chữ tâm có những nghĩa về vật chất và
về tinh thần.
Về vật chất, tâm
là:
Trái tim. Như trong Bồ Tát giới
kinh có nói: Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời gièm pha phá
hủy Phật giới, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm
mình.
Chỗ chính giữa. Cũng như trái tim
ở chính giữa thân thể, cái chi ở chính giữa sự vật, gọi là tâm, trung tâm, trung
tâm điểm.
Về tinh thần, tâm thường dịch nôm là
lòng, nghĩa là:
Lòng dạ, nỗi niềm cảm động. Như:
An tâm, loạn tâm, ưu tâm, hỷ tâm.
Nội: bề trong, đối với ngoại: bề
ngoài. Như: Tâm nhãn.
Chí, lòng cương quyết. Như: nhứt
tâm, chuyên tâm, tâm lực.
Ý: Phạn: Citta, tức tâm ý. Như:
tham tâm, sân tâm, si tâm, Bồ đề tâm: Bodhicitta.
Thức: Phạn: Vijnna tức tâm thức.
Như trong Bát thức: Tám thức, người ta thường gọi các thức A lại da là tâm.
Trí, tức trí thức, Tâm trí. Như:
Phàm tâm, Vọng tâm, Thánh tâm, Phật tâm, Chơn tâm.
Cái linh giác chung của: chúng
sanh, vạn vật, vũ trụ, tức là tâm linh, thần hồn. Như trong Niết Bàn Kinh, quyển
34, Phật phán: Những chúng sanh ở đời làm thiện hoặc làm ác, khi xả thân, thì Tứ
đại đều tan rã hư hoại. Lúc ấy, người nào đã làm Nghiệp thuần thiện thì cái tâm
đi lên, kẻ nào đã làm nghiệp thuần ác, thì cái Tâm đi
xuống.
Căn bổn, chỗ phát sanh, chỗ trụ
cốt. Như: tâm địa tâm vương.
Tánh, tức tâm tánh. Như: tâm bình,
tâm trực.
Chỗ bí mật. Như: tâm sự, tâm
truyền. Tâm đối với: sắc, trần, cảnh, thân. “
Tôi nghĩ rằng
chắc Quý Vị cũng giống như tôi, trong cuộc sống hàng ngày, có những lúc mình
thích có cái này, có cái nọ đến độ như tham lam, có những lúc mình thấy bực tức,
oán hờn, ghen tị, sợ hãi, vui vẻ … Những lúc này thật khó cho mình có thể bình
tâm mà chăm chú vào một việc gì khác được vì đầu óc mình nó còn ở đâu đâu. Cũng
chỉ là vì cái “Tâm”( hay nôm na ra là lòng dạ) của mình nó đang lăng xăng ở đâu
đâu nên khó lòng mà mình sống thật yên ổn bên trong được. Nếu mình gọi đó là cái
“Tâm”, vậy thì “Tâm” trong Ðạo Phật là gì và “nó” đang ở đâu? Câu hỏi này không
dễ gì mà trả lời được.
Tác giả Phạm Công
Thiện đã viết về “Tâm” theo quan niệm Phật
Giáo như sau:
“Cái Tâm là cái gì?
Chúng ta thường
nói rằng mọi sự đều do tâm tạo ra. Điều này lại càng chính xác hơn nữa, nếu
chúng ta đừng bao giờ đồng nhất và đồng hóa với cái bản
ngã hay cái
"tôi" nội tại của chính mình. Hiểu được tâm là gì chính là điều khó khăn nhất
trong những điều khó khăn nhất của kiếp người. Cái lòng của mình hay cái lòng
của người đời không phải là chuyện dễ hiểu như chúng ta thường tưởng như vậy.
Đừng bao giờ tự
nhận rằng mình tự hiểu cái lòng mình hay hiểu được lòng người; có ý thức trọn
vẹn như vậy thì mới có khả năng tạ ơn, ngưỡng mộ, và tôn kính tất cả những gì
khó khăn và khó hiểu nhất hiện nay. Mỗi khi mình vừa tìm cái tâm thì tâm đã đi
mất rồi. Tâm không phải là cái mà mình có thể đạt tới được trong quá khứ, hiện
tại, và tương lai. Điều bí mật lạ thường là cái tâm không ở thời gian và không ở
trong không gian mà vẫn bừng sáng liên tục.
Điều đầu tiên
cần hiểu về cái tâm là cái tâm không là một cái gì cả mà tâm lại không là hư vô.
Nói về bản chất hay về tính thể của cái tâm là tạm dùng danh từ dễ hiểu để gọi
một cái không hề giống như cái mình tưởng nhận lầm lạc. Nói theo danh từ Phật
Pháp thì tâm không có tự tính, vì không có tự tính (vô tự tính) nên không có
thực thể, không có hữu thể. Tâm là Không Tính mà Không Tính lại chính là Tâm.
Điều cuối cùng cần nhớ thường trực: cái Tâm vốn là trống trải, trong veo, sáng
ngời, vô ngại, thông đạt. Sự trống rỗng ở đây không phải là không có gì cả mà
lại biết được tất cả, sáng và sướng đồng lúc.”
Tôi xin trích một
đoạn viết về cái “Tâm” trong Tạng Thư Sống Chết dưới đây:
.”… Lúc đó tôi
chừng chín tuổi. Thầy tôi gọi tôi đến và bảo tôi ngồi trước mặt ông. Chỉ có hai
thầy trò chúng tôi. Thầy tôi bảo:
- Bây giờ ta sẽ
khai thị cho con về bản lai diện mục của tâm.
Cầm cái chuông
và trống tay nhỏ lên, thầy triệu thỉnh tất cả những bậc thầy trong hệ truyền
thừa, từ Phật nguyên thủy trở xuống đến bậc thầy của chính thầy. Rồi thầy bắt
đầu khai thị. Bỗng chốc thầy ném vào mặt tôi một câu hỏi không thể trả lời:
- Tâm là gì?
Thầy nhìn xoáy
sâu vào mắt tôi. Tôi hoàn toàn kinh ngạc. Tâm tôi tan ra. Không còn ngôn từ, tên
gọi, ý tưởng nào ở lại – Không có tâm nào hết, quả thế.
Cái gì xảy ra
trong giây phút đầy kinh ngạc ấy? Những ý niệm quá khứ đã chết, tương lai chưa
đến; dòng tư tưởng của tôi bị cắt ngang đột ngột. Trong cú sốc đó một khoảng
trống mở ra, trong khoảng trống ấy chỉ có một giác tính tuần túy trực tiếp về
hiện tại, một cái gì hoàn toàn vượt ngoài mọi bám víu chấp thủ. Giác tính ấy đơn
giản, sơ nguyên và căn để. Tuy vậy sự giản đơn thuần túy đó cũng tỏa sáng đầy sự
ấm áp của một niềm bi mẫn bao la.
Biết bao nhiêu
điều tôi có thể nói về giây phút ấy! Thầy tôi rõ ràng đang đặt cho tôi một câu
hỏi, nhưng tôi biết thầy không chờ đợi một câu trả lời. Tôi chưa săn tìm giải
đáp thì đã thấy rằng không có giải đáp nào có thể tìm kiếm. Tôi ngồi thộn ra
trong kinh ngạc, nhưng trong khi ấy một niềm tin vững chắc sâu xa sáng chói tôi
chưa từng biết đến, đang dâng tràn trong tôi.
Thầy tôi đã
hỏi: “Tâm là gì?” và vào lúc ấy tôi tưởng chừng ai cũng biết rằng, không có
chuyện có hiện hữu một cái tâm nào cả, làm sao tôi có thể tìm ra. Vậy, dường như
đi tìm tâm thực là phi lý.
Sự khai thị của
thầy tôi đã gieo một hạt giống sâu xa trong tôi. Về sau tôi mới biết đấy là
phương pháp khai thị được dùng trong truyền thống chúng tôi. Tuy nhiên, vì lúc
đó tôi không biết, mà những gì xảy ra có vẻ hoàn toàn bất ngờ, và do đó càng
kinh hoàng mãnh liệt.”
http://www.pbase.com/tamlinh/image/31974413
Như vậy có phải
rằng ta chỉ có
thể cảm nhận được cái “Tâm” của ta mà thôi?
Làm sao mà cảm
nhận được cái “Tâm” của mình nhỉ?
Khi tôi đã trên
40 tuổi, có lắm lúc tôi thấy rất mệt mỏi, buồn bực, lo âu, đời đầy áp lực …Tôi
muốn ngủ mà ngủ cũng chẳng được vì đầu óc bị căng thẳng. Tôi không muốn uống
thuốc ngủ và một người bạn đã chỉ cho tôi cách thực tập Transcendental
Meditation: mình phải cố gắng làm sao cho đầu óc ngăn chặn được những ý nghĩ đến
liên tục trong đầu óc để hy vọng là mình không còn phải vướng bận gì nữa (blank
out the mind). Những khi tôi làm được như vậy, tôi thấy như được tiếp sức bởi
một luồng energy sảng khoái, đầu óc tôi trong sáng và nhẹ nhàng, tôi ngủ thiếp
đi lúc nào không hay và khi tôi ngủ dậy, tôi thấy rất khỏe khoắn , giống như cái
“battery” được “fully recharged “vậy . Tuy nhiên, cũng có lúc tôi không thể
“concentrate” nổi để chặn đứng những ý tưởng đang khởi niệm trong đầu
óc vì tâm trí tôi bất an , lòng dạ rối bời và khi ngủ dậy, tôi cảm thấy mệt
mỏi.
Tới tuổi 50, tôi
đi dự khóa Thiền của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Cách Thiền rất là đơn giản: trong
một căn phòng tĩnh mịch, ngồi trên một cái gối (Tọa Cụ), hai chân xếp lên nhau
(thế Kiết Già), mắt lim dim và bắt đầu đếm hơi thở (Thí dụ: 1 là thở vào, 2 là
thở ra, 3 là thở vào, 4 là thở ra …Ðếm đến 100 thì lại bắt đầu đếm lại từ đầu…).
Thực tập theo lối này (Thiền Chánh Niệm, Mindfulness Meditation) tôi thấy đơn
giản, dễ dàng và nhẹ nhàng hơn vì tôi không phải luôn luôn cố gắng xua đuổi ý
nghĩ trong đầu gì hết. Ngồi đếm hơi thở, tự nhiên con người từ từ mang phần hồn
(tâm trí) về lại với phần thân xác vì đầu óc chỉ chú trọng tới việc đếm hơi thở
mà thôi. Khi tâm trí mình an trú trong thân xác, người ngồi Thiền đạt được Chánh
Niệm (Mindfulness) và tự nhiên mình biết mình đang làm gì, đang ở đâu mà không
còn suy nghĩ vẩn vơ nữa. Tiếp tục
thực tập lối Thiền Thở này, con người sẽ sống trong tỉnh thức (Self awareness) ,
biết mình đang làm gì, đầu óc đỡ bị
rối bời hơn và có thể tự kiềm chế
được lòng mình…
Tôi đã thực tập
Thiền theo lối này được hơn 10 năm. Mỗi lần Thiền như vậy, tôi cảm thấy rất nhẹ
nhàng bên trong và tôi có thể tự ý mang ra những xúc cảm như vui, buồn, sầu, lo,
ai oán … để đối diện với chúng rồi tôi có thể tìm ra những nguyên do tại sao tôi
lại có những cảm xúc (feelings) như vậy. Những hôm khí hậu tốt và tôi có thì giờ
rảnh rỗi, tôi đi bộ (Thiền Hành) trong những nơi thanh vắng. Tôi đã từng ngồi
đối diện với chính tôi bên dòng nước, trong công viên, trong căn phòng… Những
lúc này, tôi chỉ muốn được “totally left alone” để tự mình ngồi “soi bóng” chính
mình tôi mà thôi. Có lẽ đây là những giây phút mà tôi hằng ao ước để thấy đời
thanh thảng, không vướng bận vào
bất cứ việc gì để rồi bất chợt tôi “thấy” được nhiều điều mà tôi đã hằng muốn
biết trong nhiều năm qua .
Có những đêm, sau
khi ngồi chấm bài hay soạn bài, nếu không ngồi Thiền trước khi đi ngủ, và khi
tôi thiếp đi, tôi thấy đầu óc tôi chứa đầy các dòng chữ, các con số và nhiều thứ
đã làm tôi bận tâm trong ngày hôm đó.. .Buổi sáng sau khi thức dậy, tôi cảm thấy
lừ đừ, mệt mỏi vì giấc ngủ của tôi bị “phân tâm”. Nếu tôi ngồi Thiền trước khi
đi ngủ -chỉ cần 15 phút mà thôi-, tôi ngủ một giấc thật ngon, không hề thấy các
dòng chữ, các con số ... trong giấc ngủ và tôi cảm thấy khỏe khoắn khi tỉnh
dậy.
Trong đời dậy
học, tôi cũng đã thấy một số sinh viên khi thi Term Test (Thi trong Niên Khóa) hay Final
Exam (Thi tổng quát cuối Niên Khóa) thường hay bị “nervous” (lo quýnh lên) đến
nỗi có người đầu óc của họ đã quên hết và không còn nhớ được điều gì đã học nữa
(blank out) . Rút tỉa từ kinh nghiệm này, tôi chỉ cho họ cách ngồi đếm hơi thở ở
ngay trong lớp học: Thở vào một hơi thật sâu (thở vào bụng!) và từ từ thở ra cho tới khi bụng xẹt
xuống. Chỉ cần “Thiền Thở” như vậy 5 phút mà thôi. Học trò tôi rất ưng ý với
phương pháp này.
Sinh viên trong
Phân Khoa Kỹ Thuật của chúng tôi cũng thường phải qua các “job interview” trong
các “Co-op Term” (Trong Cá Nguyệt này, học trò đi làm thay vì đi học) hay khi đi
xin việc làm sau khi đã ra trường. Ðể tránh cái vụ “feeling nervous” (lo “cuống
đì!”), tôi khuyên họ nên “Thiền Thở” trong khi chờ phiên họ được “interview”. Họ
thấy được an tâm hơn trong lúc chờ đợi và khi họ được “interview”, họ đã
“perform much better” (ăn nói lưu loát và có vẻ tự chủ hơn) vì họ thấy rất bình
tĩnh và tự chủ, tự tin trong lúc “job interview” .
Trong 5 năm cuối
trước khi tôi về hưu, tôi thường phải lái xe mất ít nhất 45 phút trên xa lộ mỗi
lần đi và mỗi lần về. Có những buổi chiều, trên đường về trong xa lộ, tôi thấy
mệt đừ sau một ngày làm việc mà mặt trời còn chiếu thẳng vào mặt tôi và xe cộ
chạy rầm rầm xung quanh tôi nữa. Tôi hay nhìn đồng hồ và tự
nhủ:
-
Trời
ơi, còn những 30, 20, 15 ... phút nữa mới tới nhà sao? “
Xe cộ càng ngày
càng đông làm tôi thấy “nervous” và mệt nhọc hơ n (đó là chưa kể đến những hôm
trời bão tuyết hãi hùng!). Tôi nhớ ngay ra cách thức “Thiền Thở” và áp dụng
liền: vừa lái xe và để ý tới cái “lane” của tôi, vừa tiếp tục đếm hơi thở ngay
trong lúc lái xe. Thật là nhiệm mầu: tôi về đến nhà lúc nào không hay mà tôi
chẳng còn thấy mệt mỏi gì nữa vì tôi đã hít được nhiều Oxygen vào trong cơ thể
do đó các bắp thịt của tôi trở nên thư giãn hơn!
Tôi chẳng biết
tôi đã kiếm ra được cái Tâm của tôi hay chưa, có điều tôi biết rất rõ là tôi ngủ
rất dễ, giấc ngủ rất ngon và tôi ngủ một mạch cho đến sáng luôn. Lâu lâu, tự
nhiên tôi “thấy” rõ được những ý tưởng mà ngày xưa tôi chưa hề “thấy rõ” được
chúng mặc dù là tôi đã từng đi tìm kiếm trong nhiều năm. Tôi xin chép vào đây vài vần thơ tôi ghi
lại trong một đêm tỉnh giấc sau khi tôi ngồi Thiền rồi ngủ thiếp
đi.
MỘNG THƯỜNG
Nửa đêm về sáng
Tự trong cơn
mơ
Tôi thức giấc
Viết bài thơ
nàỵ
Có những giấc ngủ
say
Và đầy mộng
mị
Tôi không thấy kinh
dị,
Không vui mà cũng chẳng
buồn.
Không sầu, không
lo,
Không thương, không
tiếc.
Tôi không nghe thấy tiếng mình
nói
Mà chỉ lắng nghe trong tĩnh
lặng.
Tôi đã được trở
về
Như một đứa trẻ
thơ:
Gặp Cha, thăm
Mẹ
Và rất nhiều người
thân
Mà đã ra đi vĩnh viễn từ
lâu.
Gặp nhau không âu
sầu,
Không nhớ, không
thương.
Tôi chỉ muốn luôn
luôn
Được sự êm đềm
Trong Mộng
Tưởng.
Giấc mộng không vấn
vương
Giấc mộng bình
thường.
Đời vui, đời
buồn,
Đời vời vợi,
Đời nhiều vấn
vương,
Đời đầy áp
lực
Đè nặng con
người,
Đi vào Tâm
Thức.
Khi Đời lắng xuống
Trong giấc ngủ hồn
nhiên
Hay trong lúc ngồi
Thiền
Tôi cảm thấy
…
Đời người như sợi tơ
trời
Nhiều sắc, nhiều
mầu
Bập bềnh
Trong Không Gian, Vũ
Trụ
Biến đổi không
ngừng
Theo thời gian và không
gian.
Giấc ngủ nhẹ nhàng
hơn
Là phải sống
Trong Cõi
Chết
Của đời sống
Văn Minh, Máy
Móc
Hàng ngày.
Vô Không
Sept. 1996
http://www.pbase.com/tamlinh/image/32398951
Xin Quý Vị lượng thứ bỏ qua cho
những gì mà tôi viết làm nhàm tai Quý Vị. Cũng xin cám ơn Quý Vị đã kiên nhẫn
đọc những dòng chữ này.
Xin chúc Quý Vị được Thân Tâm
An Lạc
Tài liệu tham
khảo:
1. Intelligent
Quotient:
Encyclopedia
Article
http://encarta.msn.com/encyclopedia_761570026/Intelligence.html#p26
2. Multiple
Intelligences
http://www.thomasarmstrong.com/multiple_intelligences.htm
3. Emotional
Intelligence
http://www.funderstanding.com/eq.cfm
4. Spiritual Intelligence by
Khalil S. Khavari, Ph.D.
http://www.wmpub.ca/khavari.htm
5. Phật Học Tự
Ðiển
Ðoàn Trung
Còn
http://www.vietshare.com/tusach/tudienph.asp
6. Tinh Tuý
trong sáng của Ðạo Lý Phật Giáo
Những Lời dạy
thực tiễn của Tổ Sư Thánh Tăng Ấn Độ ATISA lúc truyền Đạo Phật vào Tây Tạng
Tác giả: Phạm Công Thiện - Viên Thông California Xuất Bản
1998
http://www.thuvienhoasen.org/tintuytrongsang-00.htm
7.Tạng Thư Sống Chết
The
Tibetan Book Of Living And Dying
Sogyal Rinpoche - Ni sư Thích Nữ Trí Hải
dịch
Nhà xuất bản Thanh Văn
Hoa Kỳ 1992 và Nhà xuất bản Xuân Thu Hoa Kỳ 1996
http://www.thuvienhoasen.org/tangthusongchet
Ðàm Tnung
Phán