|
Cuộc Đời và Thành Tựu
Khoa Học của Joseph-Louis Lagrange, Toán Gia Lỗi Lạc
Nhất của Thế Kỷ 18
Bài viết
này đưọc trích ra trong chương "Những Vương Công
Trong Toán Học" của
cuốn sách Vui Đời Toán Học của giáo sư Nguyễn
Xuân Vinh. Mỗi bài viết là một
câu chuyện thích thú được tác giả kể với
ngòi bút bác học của mình. Điều đặc
biệt ở đây là dù kể chuyện xẩy ra ở nước người,
ông cũng đưa vào chút hình ảnh
của quê hương và chen thêm kỷ niệm và
tâm sự riêng của mình.
Vào năm
cuối của thiên niên kỷ vừa qua, nhân dịp lễ
Giáng Sinh, trong những thiệp của
bè bạn gửi tới có hai tin về khoa học đã đưa
tôi trở về dĩ vãng, vào thời điểm
đúng nửa thế kỷ trước. Một bạn đồng nghiệp cũ ở Đại Học Michigan
là giáo sư
Donald T. Greenwood, ngoài những lời thăm hỏi thân
tình đã cho tôi hay là cuốn
sách về Động Lực Học do ông viết với đề là "Classical Dynamics", và
do nhà xuất bản Prentice Hall in ra và tái bản lại
nhiều lần, nay được nhà xuất
bản Dover Publications, Inc. là một nhà phát
hành lớn có cơ sở rộng rãi trên
thế giới mua lại bản quyền để in theo kiểu bìa mỏng bán
giá hạ để phổ biến ra
đại chúng. Điều này thường dành cho các
khoa học gia đã thành danh và sắp nghỉ
hưu. Những gì họ viết ra đã trở thành kinh điển,
có giá trị lâu dài, không cần
phải cập nhật hoá hàng năm, mỗi khi sách được in
lại. Tin tức thứ hai được gửi
đến từ một đồng nghiệp trẻ, và cũng là một cựu sinh
viên của tôi là tiến sĩ
Daniel J. Scheeres, giáo sư Đại Học Iowa State, báo cho
biết là tên ông đã được
chọn để đặt cho một hành tinh nhỏ đã được tìm thấy
từ mấy năm trước, vào ngày
14 tháng Giêng năm 1991 bởi nhà thiên văn học
E. F. Helin dùng kính viễn vọng
của thiên văn đài ỏ núi Palomar, miền Nam
California. Sau đó ít lâu, người học
trò còn gửi cho tôi một bức thư hân hoan
nói thêm chi tiết về hành tinh bé nhỏ
này, từ qũy đạo dài rộng và độ nghiêng đối
với mặt phẳng hoàng đạo, từ tâm sai
cho đến chu kỳ của thiên thể, nay được gắn liền với tên của
anh. Sau khi được
tìm thấy lần đầu tiên, nhiều đài thiên văn ở
các nơi, như đài đặt ở đảo Maui ở
Hawai, ở Lincoln Laboratory ở New Mexico, và đài
thiên văn Oaxaca ở Mexico đã
chụp được hình thiên thể này như một vệt
sáng nhỏ trên kính âm bản, định ra vị
trí và từ đó tính ra qũy đạo. Tiểu
hành tinh mới đầu mang số 8887 và sau được
một ủy ban của Hiệp Hội Quốc Tế các nhà thiên văn
học chọn tên anh để đặt.
Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này ở một dịp khác
và giờ đây tôi muốn dành những
trang sách để viết về lý thuyết gia toán học
mà công trình để lại có môn cơ học
được trình bầy trong cuốn sách của người bạn tôi
là giáo sư Greenwood, và dùng
làm phương tiện khảo cứu cho cựu sinh viên của tôi
là tiến sĩ Scheeres .
Nếu nhạc
sĩ người Áo Wolgang Amadeus Mozart (1756-1791) đã để lại
cho đời sau những bản
nhạc tuyệt vời thì hơn hai trăm năm sau, trong những năm đầu
tiên của thế kỷ
21, với lòng tôn sùng một bậc tài danh,
những người yêu âm nhạc cổ điển chỉ còn
biết lắng nghe để thưởng thức âm điệu mà thôi. Nhưng
cùng thời với ông, ở Âu
châu còn có một thiên tài khác
cũng lừng danh, nhưng tiếng tăm không vang ra
ngoài nhân thế vì ở trong bộ môn hạn hẹp
là toán học. Tuy vậy công trình của
ông
để lại, không những được người đời sau ghi chú học hỏi,
mà còn được áp dụng
trong nhiều bộ môn khoa học thực dụng cho đời sống hàng
ngày, và cả trong những
chương trình thám hiểm không gian và vũ trụ
để tìm hiểu về nguồn gốc đời sống
của con người và tương lai về sau. Người được nhắc đến trong
bài này là Joseph-Louis
Lagrange
(1736-1813), một toán gia lỗi lạc nhất, mà cũng là
người
thật khiêm cung, đã được nhiều bậc vương giả Âu
châu trọng vọng vào cuối thế kỷ
18 và đầu thế kỷ 19. Những lý thuyết của ông về
toán học và đặc biệt về cơ học
đã là những đề tài dậy học và khảo cứu của
những bạn đồng nghiệp tôi đã nhắc ở
trên, và cũng là môn học làm tôi
say mê khi mà, cách đây đúng nửa thế
kỷ, tôi
bắt đầu học môn Cơ Học Giải Tích do ông sáng
tạo. Để phê bình về danh nhân này,
Đại đế Napoléon đã từng nói rằng: "Lagrange thật là một kim tự
tháp cao
vời trong bộ môn toán học". Lời nói của
Hoàng đế thường đi đôi với việc
làm và người đã phong cho Lagrange làm
Bá tước, cử ông làm Thượng Nghị sĩ và
còn vinh tặng ông Đệ Nhất Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh. Nhiều bậc
vương giả khác ở Âu
châu như Quốc vương xứ
Ông là
người Pháp, nhưng có pha dòng máu Ý.
Tổ phụ của Lagrange là một đại úy kỵ binh
Pháp và theo tiếng gọi của sông hồ, đã tới
phục vụ dưới trướng của Quốc vương
đảo Sự Nghiệp Toán Học
Vào đầu
thế kỷ 18, nền khoa học nói chung, và toán học
nói riêng, chưa phải là một môn
học chính cho sĩ tử, nên lúc mới đầu Lagrange theo
về văn học cổ điển. Nhưng
trong khi nghiên cứu về văn hoá Hy Lạp, chàng thanh
niên được biết đến những
công trình về Hình Học của những vĩ nhân
toán học đời trước như Euclid (330-275
tr. CN) và Archimedes (287-212 tr. CN). Tuy vậy chàng
cũng không chú ý lắm về
những môn này. Nhưng sau đó Lagrange được đọc một
bài tham luận của nhà thiên
văn học Edmund Halley (1656-1742) ca tụng môn Giải Tích
Học mới được xây dựng
và hoàn bị bởi nhà bác học Isaac Newton
(1642-1727) và cho rằng môn toán học
này vượt trội hơn môn Hình Học. Bài
này gợi trí tò mò của chàng thanh
niên và
anh đã dồn hết tâm trí vào để trong một thời
gian ngắn học được hết những gì đã
được công bố trên sách vở về những phép
tính vi phân và tích phân trong
môn
giải tích học. Sự hiểu biết về toán học cao cấp
này đã làm cho Lagrange được bổ
nhiệm làm giáo sư toán học tại Trường Pháo
Binh Hoàng Gia ở tỉnh
Một bài
toán được biết từ thời thượng cổ là bài
toán đẳng chu (isoperimetric problem)
khi người ta tìm một hình phẳng có môt diện
tích cực đại cho một chu vi cho
sẵn. Lời giải tất nhiên là hình tròn nhưng
phải đợi đến thế kỷ 17 mọi người mới
chú ý đến những bài toán cực đại hay cực
tiểu khi hai anh em toán gia
Bernouilli, người Thụy Sĩ, ông anh tên là James
(1654-1706) và người em là John
(1667-1748) thách thức nhau giải bài toán sau
đây:
"Từ
một điểm khởi đầu O, thả trôi một cái vòng theo một
đường giây nhẵn thín nằm
trong mặt phẳng thẳng đứng, để cho tuột xuống một điểm A ở dưới. Phải
uốn đường
giây theo hình nào để cho thời gian tuột được ngắn
nhất." Dĩ nhiên hai anh em nhà
Bernouilli không những đưa ra nhiều
lời giải, nhưng lại còn đề ra nhiều bài toán
khác nữa thuộc loại này. Những bài
viết của anh em nhà Bernouilli đã gây phấn khởi cho
một thiên tài toán học khác
người Thụy Sĩ là Leonhard Euler (1707-1783) là học
trò của John Bernouilli, và
Euler đã đưa ra phương pháp tổng quát để giải
những bài toán mà James
Bernouilli đã đề nghị khi xưa. Ông cũng đặt tên cho
phép tính này là Phép Tính
Biến Thiên (Calculus of Variations). Nhưng ngưòi
thực sự đã đưa phép giải những
bài toán để tìm ra những trường hợp tối ưu lại
là Lagrange, lúc đó vẫn chỉ còn
là một giáo sư ở
Những năm
đầu tiên ở
Vào năm
1787, Quốc vương
"Mét
mẫu là độ dài đo ở 0 độ bách phân của thước
mẫu bằng bạch kim pha iridium đặt ở
Viện Trọng Lượng và Đo Lường ở Sèvres và đã
được hội nghị quốc tế đo lường ở
Paris năm 1889 kiểm nhận".
Trong thế
kỷ 20, với sự tiến triển vượt bực của khoa học, nhiều tính chất
vật lý có tính
cách vĩnh viễn của các hoá chất được phát
hiện, và đã có nhiều đề nghị thay đổi
định nghĩa của mét. Cho tới nay thì định nghĩa mới nhất của mét được phát biểu
ngày 20 tháng 10 năm
1983 là:
"Mét
là chiều dài đi được của ánh sáng trong
chân không trong khoảng thời gian là
1/299,792,458 giây đồng hồ" Ta nên nhớ đây chỉ là sự
thay đổi định nghĩa của mét, còn
ngoài ra các nước hội viên đã công
nhận hệ thống thập phân mét-kilogram đều có
mẫu thước và quả cân lấy từ khuôn ở Viện Trọng Lượng
và Đo Lường ở Sèvres để
làm chuẩn. Định nghĩa này chỉ là sự công
nhận tốc độ của ánh sáng là tuyệt đối
và là c = 299,792,458 m/s
Sau khi
nước Pháp trở lại chế độ quân chủ, dưới thời Đại Đế
Napoléon nhà Toán Học tiếp
tục được sự ngưỡng mộ của mọi người và dành nhiều thời
gian vào giáo dục, trở
thành giáo sư phụ trách ban toán của Trường
Đại Học Sư Phạm (École Normale) và
sau đó ở Trường Bách Khoa (École Polytechnique)
vừa được sáng lập vào những năm
1795 và 1797. Cho đến bây giờ hai trường này vẫn
tồn tại như là những trường
đào tạo chuyên gia bề thế nhất ở nước Pháp. Năm
1808, Hoàng đế Napoléon phong
cho Lagrange làm Bá tước và gắn cho ông Đệ
nhất đẳng Bắc đẩu bội tinh. Lúc đó
Toán gia đã cảm thấy suy yếu và cố gắng duyệt lại
cuốn sách Cơ Học Giải Tích
(Mécanique Analytique) để lại cho đời sau nhưng ông chỉ
hoàn thành được chừng
hai phần ba cuốn sách thật vĩ đại cả về phẩm lẫn lượng. Năm
1813, một tuần lễ
trước khi bá tước Lagrange qua đời ông được trao tặng
huân chương hoàng gia cao
qúy nhất. Hai hôm trước ngày ông qua đời mấy
người bạn thân tới thăm thì được
ông cho biết là linh cảm thấy ngày cuối đời
đã tới vì sức lực và trí não
đã dần
dần rời khỏi người ông. Ông thấy thân tâm an
bình để ra đi sau khi đã đóng góp
được chút ít cho kiến thức của nhân loại. Ông
chỉ tiếc là người vợ tận tâm và
thân yêu đã không cam lòng nhìn
thấy ông sắp vĩnh biệt trần thế. Bá tước Lagrange
được an táng tại Điện Panthéon ở "Joseph-Louis
Lagrange. Sénateur. Comte de l'Empire. Grand Officier
de la Légion d'Honneur. Grand Croix de l'Ordre Impérial
de la Réunion. Membre
de l'Institut et du Bureau de Longitude. Né à
Một phố ở Môn Cơ Học Giải Tích
Cơ học là
môn học giúp cho ta tính được sự chuyển động của
các vật thể dưới sự tác dụng
của các lực đặt vào. Trong đời sống hàng
ngày trên trái đất và từ hàng nhiều
tỷ
năm nay, ở ngoài vũ trụ bao la vô cùng, cũng như ở
trong giới hạn thu hẹp trong
Thái Dương Hệ của chúng ta, các vật thể đều di
động. Dù chỉ là một cơn gió thổi
nhẹ trong một khung cảnh thanh bình, hay là một đường đạn
bay, một trái bom rơi
gây ra những chấn động ầm ĩ trong một bầu không khí
chiến tranh rực lửa, hay là
những chuyển vận đưa con người di chuyển từ nơi này qua nơi nọ,
bằng những con
tàu bay trên mây trời hay lướt trên mặt nước ở
sông hồ hay đại dương, hay chạy
trên mặt đất, chung quanh ta mọi vật đều chuyển vận, thay đổi vị
trí theo thời
gian. Dùng phép tính mà tiên
đoán được chuyển vận là điều ai cũng muốn thực
hiện được. Trong thế kỷ chúng ta đang sống, quan niệm về sự
chuyển vận của vật
thể được nới rộng ra và bao gồm những sự thay đổi của tất cả
những đại lượng
nào có thể đo lường được, tỷ dụ như giá cả của
hàng hoá, hay cổ phiếu trên thị
trường, và trong những trường hợp này những lực
tác dụng làm thay đổi giá cả,
tăng lên hay giảm đi, chính là những động lực kinh
tế như là sự tin cậy và sức
tiêu thụ của quần chúng, mức sản xuất và phí
tổn trong kỹ nghệ bao gồm giá cả
vật liệu và lương bổng của nhân công, vân
vân ... . Khi có đầy đủ những yếu tố
cần thiết, mà ta có thể dùng những phương
trình toán học để tiên đoán được
những gì sẽ tới trong tương lai thì đó là
điều ước mơ của tất cả những kinh tế
gia. Ở thời đại của Lagrange, vì chưa có những phương
tiện du hành tối tân như
phi cơ với những vận tốc siêu thanh và những máy
móc xử dụng còn rất đơn giản
nên trong thực dụng người ta chỉ dùng toán
pháp trong môn cơ học để tính những
đạn đạo của pháo binh trên mặt đất, và ra
ngoài bầu trời thì môn cơ học thiên
thể được dùng để tính những chuyển động và định vị
trí của các hành tinh.
Nền tảng
của môn cơ học được đặt trên nguyên lý thứ hai
của F = m a Vì vậy trước khi viết phương
trình chuyển động của một trọng
điểm, chẳng hạn lấy thí dụ điểm là một phi đạn,
thì người ta thường vẽ đồ thị
của các lực tác dụng, thường thì có hấp lực
của trọng trường trái đất, sức cản
và sức nâng của không khí và đôi
khi còn gồm cả sức đẩy của động cơ nữa. Trong
trường hợp trọng điểm là một hành tinh nhỏ thì
những lực tác dụng là hấp lực
của các trọng trường gồm có mặt trời và các
hành tinh, kể cả trái đất của chúng
ta. Khi đã biểu diễn tất cả các lực tác dụng,
và gọi tổng hợp là F,
người ta
dùng một hệ thống quy chiếu, thường thì là ba trục
toạ độ để theo dõi hoành độ
x, tung độ y và cao độ z của trọng điểm trong không gian
ba chiều. Dùng nguyên
lý của
Trong
khoảng thời gian từ 1772 cho tới 1788, khi ở vào khoảng tuổi ba
mươi đang sáng
tác phong phú nhất, Lagrange đã xét lại lối
viết phương trình cơ học bằng cách
áp dụng định luật Newton, thì cũng như mọi người thấy
ngay rằng khi một hệ
thống động lực trở nên phức tạp, phải cần có môt lối
viết thống nhất cho các phương
trình trở nên đối xứng. Chẳng hạn khi chàng
nghiên cứu chuyển động của ba vật
thể trong không gian dưới sự hấp dẫn tương quan của nhau
thì theo lối cổ điển,
ta dùng những tọa độ thẳng góc xi, yi và zi với i = 1, 2, 3 cho 3 vật thể. Lối viết
này chỉ
tiện lợi cho chuyển động
của một điểm vật chất trong một khoảng đường ngắn như những phương
trình đạn
đạo chàng dậy cho các sĩ quan pháo binh, nhưng khi
viết cho qũy đạo không gian
của ba vật thể phải dùng đến những toạ độ cầu thì
các phương trình trở nên phức
tạp và lại không giống nhau nên khó
tìm ra lời giải. Vì thế nên Lagrange gọi
chung các toạ độ là toạ độ tổng quát tượng trưng
bởi qi với i = 1, 2, …, n cho trường hợp
có n toạ độ.
Như bài toán ba vật thể thì n = 9. Lagrange chứng
minh được rằng khởi đầu từ cơ
học Newton, nếu V là thế lực đặt vào
thì
V có thể viết thành biểu thức của qi
và
nếu T là động năng của hệ thống thì người ta cũng
có thể viết biểu thức của T
như là một hàm số của qi và
của đạo hàm
q.i . Sau khi viết được biểu thị của V và của T người ta
có hàm số Lagrange là
hiệu số L = T - V . Phương
trình
Lagrange viết chung cho các chuyển động như thế sẽ có một
dạng chung là
Phương pháp của Lagrange thật
là dản dị và cân xứng. Muốn giải
một bài toán cơ học, trước hết người ta xét độ tự
do của hệ thống, chẳng hạn
cho đạn đạo, viên đạn có thể di chuyển theo ba chiều
nên có ba độ tự do và cần
phải có ba toạ độ. Nếu một hê thống phức tạp hơn có
n độ tự do thì cần phải n toạ độ
tổng quát. Theo
Lagrange thì chỉ cần biểu thị thế lực V và động năng T
là những hàm số của
qi và qi. là sau đó
viết được phương
trình Lagrange cho chuyển động. Vẻ đẹp của lý thuyết của
Lagrange là ở điểm
này, và ông đã tự hào rằng suốt
toàn cuốn sách viết mà không cần có
một hình
vẽ. Nhưng tìm được người hiểu thấu đáo một lý
thuyết tân kỳ không phải là điều
dễ. Sau khi đã viết xong cuốn sách Mécanique
Analytique trình bầy lý thuyết của
mình Lagrange cũng phải vất vả lắm mới có được một
nhà xuất bản chịu bỏ tiền ra
in, mà cũng nhờ đuợc một toán gia trẻ tuổi là
Legendre (1752-1833), vì lòng hâm
mộ mà lo cho việc in ấn được chu toàn vào năm 1788. Phương pháp của Lagrange đã được
Huân tước
William Rowan Hamilton (1805-1865) là một nhà toán
và thiên văn học lỗi lạc của
Ai Nhĩ Lan khen ngợi là một áng thơ khoa học. Năm 1888,
đúng 100 năm sau khi
cuốn sách của Lagrange ra đời, nhà xuất bản sách
toán đại học danh tiếng ở Môn Cơ Học Thiên Thể
Môn Cơ Học
Thiên Thể (Celestial Mechanics), khảo xát sự chuyển
động của các hành tinh, lớn
hay nhỏ, và các vệ tinh quay chung quanh những
hành tinh, và chuyển động của
các sao chổi, là một môn Toán học mà
Lagrange đã có nhiều đóng góp quan trọng.
Ở thời đại này, môn học bao gồm cả những chuyển động của
các vệ tinh nhân tạo,
và các phi thuyền không gian, và nếu
kèm thêm cả sự điều khiển các phi thuyền
bay trong không gian, thì được các khoa học gia
chọn cho một tên khác, hoặc
là Cơ
Học Vũ Trụ (Astrodynamics), hay
nói rõ ràng hơn là môn
Cơ Học Phi Hành
Không Gian (Spaceflight mechanics). Trong bộ môn
này, không một nhà nghiên cứu
môn cơ học vũ trụ nào mà không biết đến
bài toán nổi danh là "Bài Toán Ba
Vật Thể" trong những sách giáo khoa được biết đến
dưới tên là "The
Three-Body Problem". Tên của
bài
toán này viết theo lối ngắn gọn nên người đọc
không hiểu được thấu đáo tính
chất toán học của vấn đề. Thật ra bài toán được
phát biểu như sau:
"Cho
ba vật thể trong không gian, được coi như là những trọng
điểm m1, m2 và m3, có
hấp lực với nhau theo tỷ lệ nghịch với bình phương của khoảng
cách và tỷ lệ
thuận với trọng khối. Tìm chuyển động tương đối giữa ba vật thể
này."
Bài toán
này được nổi tiếng vì đó là trường hợp xẩy
ra thường xuyên trong Thái dương hệ,
như là chuyển đông liên hệ đến mặt trời, trái
đất và măt trăng. Trước khi nói
đến chuyển động giữa ba vật thể, ta có trường hợp giản dị hơn
là chuyển động
tương đối giữa hai vật thể như mặt trời và trái đất hay
giữa trái đất và mặt
trăng.
Thế kỷ thứ
18 ở Âu châu được coi như thế kỷ cường thịnh khi mà
môn cơ học được nâng cao
như là một môn toán học. Nhờ những nguyên
lý động lực học của Newton mới được
phát minh, và sự hoàn chỉnh lý thuyết cơ
học giải tích của Lagrange mà nay các
nhà thiên văn học có thể tính được những
chuyển động của các hành tinh trong
Thái Dương Hệ. Môn cơ học thiên thể được đặt
trên định luật vạn vật hấp
dẫn của nhà bác học Newton,
phát biểu
như sau:
"Hai
điểm vật chất hút nhau bởi những lực trực đối, tỷ lệ với những
trọng khối của
chúng và tỷ lệ ngược với bình phương khoảng
cách". Nhưng
Huân tước Isaac Newton
(1643-1727) sở dĩ tìm được định luật này là phải
nhờ những định luật của Kepler
về sự chuyển vận của các hành tinh. Nhà
thiên văn học Johannes Kepler
(1571-1630), nhờ những kết quả quan sát rất chính
sác của người thầy là nhà
thiên văn học Tycho de Brahé (1546-1601) để lại, đã
công bố ba định luật sau
đây cho sự chuyển vận của các hành tinh trong
thái dương hệ: Định
luật I (1609): Những hành tinh
vẽ
những ellip mà mặt trời là môt tiêu điểm. Định
luật II (1609): Những bán
kính véc tơ nối mặt trời và hành tinh
quét những
diện tích bằng nhau trong những khoảng thời gian bằng nhau. Định
luật III (1618): Những bình
phương thời gian chuyển vận quanh măt trời tỷ lệ
theo những lập phương của những độ dài của qũy đạo. Vào cuối thế kỷ thứ 16 thì
theo hệ thống đề ra bởi nhà thiên
văn học nguời Ba Lan Nicolas Copernic
(1473-1543) người ta đã công nhận rằng mặt trời cố định ở
tâm của thiên cầu và
những hành tinh chuyển động theo những vòng tròn
chung quanh mặt trời. Trái đất
cũng chỉ là một hành tinh. Nhưng khi Kepler tiếp tục
những khảo xát của thầy
học là Tycho de Brahe và chấm vị trí của Hoả Tinh
dựa trên nguyên tắc là một
vòng tròn thì thấy giữa lý thuyết và
kết quả có sự sai biệt đáng kể. Sau nhiều
giả thuyết đặt ra, sự tìm tòi của ông đưa đến kết
quả đặc biệt là Hoả tinh vẽ
một qũy đạo hình ellip với mặt trời ở một tiêu điểm theo
định luật diện tích.
Ông đem nghiệm lại giả thuyết này cho các
hành tinh khác và phát biểu những
định luật thiên văn nổi danh như đã ghi lại ở trên.
Khi bắt đầu sự khảo xát, Kepler cũng
nghĩ như Copernic là
qũy đạo của Hoả tinh là hình tròn nhưng vì
mặt trời ở vị trí lệch không đúng
trung tâm vòng tròn nên khoảng cách
tới hành tinh thay đổi. Ông ấn định vị trí
gần nhất gọi là cận nhật và vị trí xa nhất gọi
là viễn nhật và vẽ đường kính
nối hai điểm cho vòng tròn qũy đạo. Nhưng đến lúc
chấm nhửng vị trí quan
sát được cho
hành tinh thì thấy có sự sai
chệch và nhận xét thấy rằng Hỏa tinh
đều nằm ở phía trong vòng tròn chuẩn. Vì
vậy ông nghĩ rằng qũy đạo phải
là một hình ellip. Sau nhiều lần thử,
đặt nhiều ellip khác nhau, và thử một vài vị
trí của mặt trời ông tìm thấy qũy
đạo của Hỏa tinh là một ellip, tâm sai là 0,093
và có mặt trời ở một tiêu điểm.
Kepler thường nhũn nhặn nói rằng vì gặp may mà
ông đã chinh phục được Hoả tinh.
Ta cũng phải công nhận rằng ông gặp nhiều may mắn. May mắn
đầu tiên là ông đã
bắt đầu bằng sự khảo sát Hoả tinh.
Nếu
ông bắt đầu với qũy đạo của Kim tinh mà tâm sai
là 0,007 thì khó lòng ông đoán
được nó là một ellip vì nó cũng không
khác vòng tròn là mấy. May mắn thứ hai
là
ông đã nhờ được dữ kiện quan sát tinh vi của thầy
học là Tycho de Brahe. Suốt
đời chắc không bao giờ Kepler quên được ông thầy
này. Sau hết vào năm 1614 nhà
toán học Néper cho ấn hành bảng
lô-ga-rít đầu tiên, nhờ
đó mà Kepler có
thể giải những bài toán một cách dễ dàng
và phát biểu vào năm 1618 định luật thứ ba về thời
gian vận chuyển của các hành
tinh.
Những định
luật của Kepler đã cho biết sự chuyển động của các
hành tinh. Tiếp theo, nhà
Toán học
Bài toán
về chuyển động tương đối giữa hai vật thể là bài
toán đã được làm dản dị trong
Thái dương hệ khi người ta coi mặt trời như là đứng cố
định và xét riêng biệt
chuyển động của từng hành tinh một. Bây giờ thì
người ta đã biết rằng mặt trời
là một ngôi sao trung bình và là
tâm
hấp lực của những hành tinh và những sao chổi làm
thành Thái Dương Hệ của chúng
ta. Trong vũ trụ có thể có nhiều ngôi sao
khác có những hành tinh quay chung
quanh và làm thành những thái dương hệ
tương tự. Kể cả trái đất, có tất cả 9
hành tinh quay quanh mặt trời theo những qũy đạo là những
hình ellip mà mặt
trời là một tiêu điểm. Lấy khoảng cách trung
bình từ trái đất đến mặt trời làm
đơn vị thì, kể từ trong ra ngoài, ta có những
hành tinh sau đây cùng với khoảng
cách trung bình tới mặt trời ghi ở cột cuối
Thủy
tinh
(Mercury)
0.387
Kim
tinh
(Venus)
0.723
Trái
đất
(Earth)
1.0
Hỏa
tinh
(Mars)
1.524
Mộc tinh
(Jupiter)
5.203
Thổ
tinh
(Saturn)
9.539
Thiên
Vương tinh
(Uranus)
19.18
Hải
Vương tinh
(
Diêm
Vương tinh
(Pluto)
39.44
Trừ trái
đất ra thì năm hành tinh đầu đã được tìm
thấy từ thời cổ. Ba hành tinh sau cùng
lần lượt được tìm thấy vào những năm 1781, 1846 và
1930. Vào năm 1772 một nhà
thiên văn học người Phổ tên là Bode đã đặt ra
một số liệt khá diệu kỳ để cho
những khoảng cách từ các hành tinh tới mặt trời .
Mới đầu ta viết ra một hàng
số
0
3
6
12
24
48
96
192 Bắt đầu từ số thứ hai, mỗi lần nhân
đôi lại được số tiếp
nối. Sau đó cộng thêm 4 để được một dẫy số khác .
4
7
10 16 28 52 100 196
Bây giờ nếu đem chia cho 10 thì
sẽ được một hàng số cho
khoảng cách từ các hành tinh tới mặt trời
0.4 0.7 1.0
1.6 2.8 5.2
10
19.6 Ta nhận thấy bốn số đầu cho gần đúng
những khoảng cách của
Thủy tinh (0.387), Kim tinh (0.723), Trái đất (1.0) và
Hỏa tinh (1.524). Con số
thứ năm là 2.8 thì không đúng vào
hành tinh nào cả. Những số tiếp sau là 5.2,
10 và 19.6 có thể dùng để chỉ những khoảng
cách tới mặt trời của Mộc tinh
(5.203), Thổ tinh (9.539) và Thiên vương tinh (19.18). Lối
tính này được người
ta gọi là định luật Bode nhưng định luật này không
được coi như là một định lý
toán học vì không dựa lên một lý luận
chặt chẽ nào cả. Ngoài tính cách huyền
bí, định luật Bode cũng nhiều lúc gây sôi nổi
trong giới khoa học. Sau khi định
luật được loan ra mấy năm thì nhà thiên văn học Anh
quốc Hershel (1738-1822)
tìm thấy Thiên vương tinh vào năm 1781 ở khoảng
cách trung bình là 19.18 cũng
gần trùng hợp với dẫy số của Bode. Điều lạ kỳ là giữa Hoả
tinh và Mộc tinh có
một khoảng trống, không có hành tinh nào,
mà theo định luật Bode thì lại có
khoảng cách 2.8. Vào năm 1801 người ta phát hiện
ra một hành tinh nhỏ trên bầu
trời. Vừa đặt tên hành tinh là Cérès
thì tiểu hành tinh này mà bề ngang chưa
tới một ngàn cây số đã đi vào khoảng trường
vũ trụ khó quan sát từ trái đất vì vướng
ánh dương quang. Người ta chỉ còn ghi được một vài
tọa độ trước đây của Cérès
mà điều khó khăn hơn nữa là vào thời ấy
các nhà thiên văn học chỉ dùng kính
quan sát để đo được hướng nhắm mà không có
cách nào để đo khoảng cách. Nhà toán
học Đức quốc lừng tiếng thời bấy giờ, và có lẽ cả
thiên thu sau này, là Carl
Friedrich Gauss (1777-1855) đã bắt tay vào việc và
ông đã tính ra được qũy đạo
của Cérès với khoảng cách trung bình tới
mặt trời là 2.67. Chiếu theo dự tính
của Gauss, các nhà thiên văn học quan sát
vùng trời ấy và tìm lại được tiểu
hành tinh Cérès. Cuộc truy tìm những
hành tinh nhỏ mới lạ tiếp diễn và sau đó
các nhà thiên văn học lại tìm thêm ra
được mấy trăm tiểu hành tinh chạy theo
những hình ellip để làm thành một vòng đai
chung quanh mặt trời với cận điểm
vào khoảng 1.76 và viễn điểm đi xa tới 4.25 đơn vị khoảng
cách thiên văn mà ta
đã lấy là khoảng cách
trung bình từ trái
đất tới mặt trời. Như thế thì định luật Bode cũng còn
đúng cho vùng không gian
giữa Hỏa tinh và Mộc tinh. Sau những phép tính của
Gauss, nhiều nhà toán học
chú ý đến phép tính những qũy đạo của
các hành tinh ở xa mặt trời nhưng lại gần
những hành tinh lớn khác để có thể bị nhiễu loạn.
Nhà thiên văn học Pháp là Le
Verrier (1811-1877) nhận thấy rằng qũy đạo của Thiên vương tinh
đi lệch không
đúng như tiên đoán. Ông đặt giả thuyết rằng
có một hành tinh nữa ở ngoài Thiên
vương tinh và vì thế trọng trường của nó có
tác dụng nhiễu loạn vào hành tinh
này. Sau khi đã làm nhiều bài tính
phức tạp, ông cho biết những phần tử về quỹ
đạo của một hành tinh mà ông phỏng đoán sự
hiện hữu trước đây. Ngày 18 tháng
Chín năm 1846, Le Verrier viết cho nhà thiên văn
học
Vào hậu
bán thế kỷ 20, một vấn đề được các khoa học gia
không gian chú ý đến là các
tiểu hành tinh được tìm thấy càng ngày
càng nhiều, cho đến nay lớn nhỏ đã tới
hàng trăm ngàn vật thể. Trong số đó có 26
tiểu hành tinh có kích thước lớn hơn
là 200 km. Tiểu hành tinh lớn nhất
cho
đến nay vẫn là hành tinh Céres mà ước lượng
mới nhất cho biết chiều dài là 933
km và khối lượng vào khoảng 25% tổng
số
khối lượng của các tiểu hành tinh cộng lại. Vấn đề lo
ngại của các khoa học gia
không gian là trong tương lai có thể một tiểu
hành tinh với một kích thước đáng
kể, dù chỉ chừng vài cây số, mà qũy đạo bị
nhiễu loạn khi đi gần các hành tinh
lớn mà có thể gây ra va chạm với Trái đất.
Nhiều nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ý
Đại Lợi, … đã có những chương trình thám
sát các tiểu hành
tinh và nếu cần thì tìm cách di chuyển
qũy đạo. Những tiểu hành tinh này thường có những
hình thể không phải là hình
cầu như trong hình kèm theo đã ghép một số
những tiểu hành tinh được các vệ
tinh nhân tạo chụp hình khi bay ngang qua.
Mặt khác, như tất cả các vật thể trong
không gian, những
hành tinh này lại quay quanh một
trục nên khi nghiên cứu những chuyển động của vệ tinh nhân tạo quay quanh một tiểu
hành tinh với một hình thể
và cấu tạo bất thường, tuy cũng làbài toán
chuyển động tương đối của hai vật
thể, nhưng qũy đạo trở nên rất phức tạp,
không còn là hình ellip như trường hợp
lý tưởng chỉ coi hai vật thể như là hai
trọng điểm mà thôi. Người cựu sinh viên của
tôi là giáo sư tiến sĩ Daniel J.
Scheeres hiện là một chuyên gia rất có uy
tín về môn cơ học thiên thể và có
nhiều bài viết về chuyển động chung quanh các tiểu
hành tinh. Như đã nói ở đầu
chương sách, ông đã được các bạn đồng nghiệp
có thẩm quyền dành cho một tiểu
hành tinh mang tên Scheeres.
Như đã
trình bầy ở trên nếu lấy Thái dương và bất
kỳ một hành tinh nào thì ta coi
chuyển động như giữa hai vật thể và qũy đạo tương đối là
một ellip. Nhưng nếu
tính một cách chính xác thì chuyển
động của bất kỳ một hành tinh nào cũng phải
được coi như là chuyển động của ba vật thể là Mặt trời,
hành tinh chính và một
hành tinh khác ở vùng phụ cận. Ở thời đại du
hành vũ trụ này một bài toán quen
thuộc khác là bài toán qũy đạo lên
trăng. Lấy Trái đất, Mặt trăng và một phi
thuyền không gian, hay một vệ tinh nhân tạo, thì nếu
không kể ảnh hưởng của Mặt
trời, nếu ta khảo xát chuyển động tương đối của Mặt trăng đối
với Trái đất, ảnh
hưởng của phi thuyền không gian không đáng kể
thì qũy đạo của mặt trăng mà ta
gọi là Bạch đạo là một hình ellip với Trái
đất ở một tiêu điểm. Nhưng nếu ta
khảo xát qũy đạo của phi thuyền không gian thì vấn
đề phức tạp hơn nhiều. Nếu
phi thuyền bay sát mặt trái đất, sức hút của mặt
trăng ở xa vời coi như không
đáng kể thì phi thuyền bay theo một qũy đạo hình
ellip với tâm sai nhỏ. Cũng
như vậy, phi thuyền có thể bay sát mặt trăng theo một
hình ellip gần như hình tròn vì sức hút của
Trái đất ở
xa coi như không đáng kể. Nhưng ở miền trung hoà khi mà hấp lực của
trái đất
và của mặt trăng cùng tương đương
thì chuyển động có thể rất phức tạp. Phi thuyền, hay vệ
tinh, nếu không điều
khiển thì có thể hoặc chỉ ở trong vùng của
Trái đất, hoặc chỉ ở trong vùng của
Mặt trăng, nhưng cũng có thể sau
khi có
quỹ đạo ở vùng mặt trăng môt thời gian, vệ tinh sau khi
bay vòng vòng nhiều lần
chung quanh mặt trăng lại chuyển dần về phiá trái đất và có thễ bất thình
lình bị hút vào vùng này
và trở thành vệ tinh của trái đất.
Bài
toán này được gọi là "Bài Toán Ba
Vật Thể Giới Hạn" (The Restricted
Three-Body Problem). Gọi như thế vì trong trường hợp này,
bài toán ba vật thể
đã được giản dị hoá, ta
đã biết chuyển
động tương đối giữa mặt trăng và trái đất rồi, chỉ
còn phải tìm chuyển động của
vệ tinh nhỏ mà thôi.
Lagrange
là một trong những toán gia đầu tiên
nghiên cứu và tìm lời giải cho
bài toán ba vật thể tổng quát
khi mà cả ba vật thể cùng có trọng
khối tương
đương. Trải qua gần ba trăm năm, bài toán cho đến nay vẫn
chưa ai giải được tuy
rằng đã có nhiều bài viết về những khía
cạnh đặc biệt về bài toán nói riêng,
và
về những lý thuyết cơ học hay toán học được xây
dựng chung quanh bài toán.
Nhưng tuy rằng không tìm ra lời giải toàn diện cho
bài toán ba vật thể tổng
quát, Lagrange đã để lại dấu ấn đặc biệt lưu tên
tuổi ông lại trong môn Cơ Học
Thiên Thể khi toán gia
tìm ra được 5 lời giải đặc biệt
cho bài toán. Năm 1772 ông gửi một bài khảo
cứu đề là "Essai sur le Problème
des Trois Corps" cho Hàn Lâm Viện Paris và được
giải khôi nguyên cho bài
viết. Trước hết ông viết phương trình vi phân tổng
quát cho ba vật thể .
Sau đó khi thấy không thể
nào giải một
cách dễ dàng hệ thống phương trình vi phân
này trong trường hợp tổng quát,
Lagrange tìm điều kiện để cho trong chuyển động tỷ lệ giữa những
khoảng cách
các vật thể luôn luôn
cố định. Ông chứng
minh được rằng trong trường hợp chung bao giờ cũng có 5 vị
trí, tức là 5 lời
giải đặc biệt cho bài toán ba vật thể. Hình vẽ trên đây cho trường hợp của Mặt trời và Trái đất và cũng có thể lấy trường hợp Trái đất và Mặt trăng như là hai thiên thN |