Truyện Hoàng Huy Giang

Em và tôi, Hương yêu đất nước!

 

Tôi hằng ngày ngồi yên nơi chỗ Nga vẫn ngồi, như cố níu lại những gì đang thảng trôi. Nga về chỉ có hai tuần, nhưng tôi tưởng chừng nàng đã kề gần bên tôi hàng bao thế kỷ. Hai tuần bên Nga trong một tình bạn thật gần gũi, thật thanh khiết để cho tôi thấy đời mình chừng như ở trên một cõi tiên bồng nào đó.

 

Từ khi bắt được tin tức của nhau qua đám bạn bè cũ, chúng tôi nhen nhúm lại tình bạn nồng ấm ngày xưa.  Cả tôi và Nga, không ai có một ràng buộc nào cả. Nga trở thành quả phụ sau khi chồng nàng tử trận trong những ngày rối loạn của đầu năm 75. Còn tôi, cũng không thua chi thân phận của nàng khi Hiền, người vợ đầu ấp tay gối của tôi đã giã từ cõi đời lúc nàng chưa đầy 40 sau một cơn bạo bệnh. Con cái của Nga cũng như của tôi đều đã yên ấm mọi bề.

 

Từ một góc trời của vùng Bắc Đức, hàng năm Nga vẫn về thăm người mẹ dấu yêu còn đang sống tại quê nhà. Mỗi lần về Nga đều đến thăm tôi.  Và lần này cũng vậy. Nga về vào mùng bốn Tết, đúng lúc tiệm tùng vừa bắt đầu mở cửa lại nhưng hương vị Tết vẫn còn vương mang trong gió. Trong chuyến về thăm này Nga rủ tôi đi Sóc Trăng chơi. Đây là một nơi mà tôi chưa bao giờ đặt chân đến. Quanh năm sống ở Sài Gòn hít thở không khí bụi bặm, đời sống lúc nào cũng ồn ào, náo nhiệt nên nếu có dịp được tránh khỏi chốn phồn hoa, tấp nập dù chỉ năm ba ngày, tôi cũng cảm thấy lòng lâng lâng phấn khởi, huống chi lại còn có Nga bên cạnh thì còn gì hạnh phúc cho bằng. Thế là, khi Nga đề nghị đi Sóc Trăng chơi, nghe Nga thao thao bất tuyệt về những danh lam thắng cảnh của tỉnh lỵ này tôi tán đồng ngay ý kiến nàng đưa ra.

 

Sóc Trăng cách Sài Gòn khoảng chừng 230 cây số. Nằm cuối lưu vực sông Cửu Long, với chiều dài 72 cây số chạy dọc biển và 300 cây số vuông đất bồi, Sóc Trăng mang nhiều di tích lịch sử của dân tộc Khmer, với tên nguyên thủy mà dân tộc này gọi là Srok Kh’leang rồi dân gian đọc trại đi thành Sóc Trăng.

 

Sau khi ngủ đêm tại nhà một người bà con cô cậu của Nga ở Mỹ Xuyên, một trong tám huyện của tỉnh Sóc Trăng, ngày hôm sau chúng tôi đi thăm Cù Lao Dung thật sớm. Cù Lao Dung có nhiều kinh, rạch chằng chịt như mê cung, với nhiều con đường nối liền nhau giữa các khu vườn trồng cây ăn trái thật thích thú, nhưng nếu không có Nga bên cạnh hướng dẫn chắc là tôi đã bị lạc theo bước chân của loài chim Chằng-bè từ lúc nào rồi. 

 

Có đất liền, có cù lao, có sông nước và biển cả, tỉnh Sóc Trăng mang sắc thái của một nền văn hóa đặc sắc, đa dạng qua sự kết hợp của 3 dân tộc Việt, Khmer và Hoa với các di tích lịch sử cùng lối kiến trúc chùa chiền thật đặc biệt. Được xem như là xứ sở của chùa chiền, Sóc Trăng có trên hai trăm ngôi chùa lớn nhỏ. Trong thời gian đến đây, ngoài viếng thăm những danh lam thắng cảnh, Nga và tôi cũng đã viếng thăm chùa Dơi và chùa Đất Sét.

 

Chùa Dơi nằm cách trung tâm tỉnh Sóc Trăng chừng 2 cây số với lối kiến trúc độc đáo, mang một nét đẹp hài hòa với những cây cao to lớn, xanh tươi bốn mùa, là nơi trú ngụ của hàng triệu con dơi, có con lớn khi sải chiếc cánh dài đến cả 1 thước rưỡi. Ban ngày đàn dơi đón nhận nơi đây làm quê hương đã nương náu trong những tàn cây rộng, đến khi chiều hôm đổ xuống thì lần lượt giương cánh cùng nhau bay đi ra xa mãi đến sông Tiền, sông Hậu để kiếm thức ăn. Dù trú ngụ kín cả khuôn viên chùa nhưng đàn dơi này không bao giờ phá hoại cây trái trồng trong khu vực chùa như xoài, vú sữa, sầu riêng, măng cụt v.v.. Chùa được xây vào thế kỷ thứ 16, nguyên thủy mang tên là Sêrây Têchô Mahatúp, tiếng Việt gọi là chùa Mã Tộc, nhưng vì đàn dơi nương náu tại đây lâu đời nên được nhiều người biết đến qua tên chùa Dơi.

 

Sau khi viếng thăm bên trong chùa, Nga và tôi đi ra sau vườn để viếng mộ chôn hai chú heo được xây bằng xi măng với mộ bia ghi chú ngày sinh, ngày tử và tuổi thọ. Nga kể rằng, trước đây tại một số nơi chăn nuôi ở Sóc Trăng có vài con heo con lúc mới sinh ra bàn chân lại có 5 móng, thay vì 3 móng như bình thường. Thấy việc lạ lùng như vậy những nhân viên làm việc tại các nơi chăn nuôi này hoảng sợ, họ không dám giết mà cũng không dám nuôi nên đã mang những con heo năm móng này đến chùa Dơi gửi gấm. Rồi những con heo này sinh sôi nẩy nở được tổng cộng 7 con. Lâu lâu một lần cả đàn heo 5 móng này tự động dẫn nhau đi bộ, ngoạn cảnh dạo chơi. Chúng đi từ chùa ra chợ Sóc Trăng cả vài cây số rồi lại tự động trở về Chùa, đi có trật tự mà không cần ai dẫn dắt. Cách đây không lâu hai con lớn tuổi nhất trong đàn heo chết vì già lúc đó thọ 7 tuổi, nên được chôn đằng sau chùa. Một người khách từ Sài Gòn xuống viếng thăm chùa, nghe qua câu chuyện, động lòng nên đã bỏ tiền ra xây cất lại hai ngôi mộ có cả hình hai chú heo. Bây giờ đàn heo 5 móng của chùa Dơi còn lại 5 con. Con già nhất được 5 tuổi, khá mập, nặng nề nên chỉ nằm một chỗ.   

 

Rời chùa Dơi, chúng tôi đến viếng ngôi Bảo Sơn Tự nằm cách thị xã Sóc Trăng khoảng một cây số, còn được gọi là chùa Đất Sét. Hầu hết các chùa ở đây được kiến trúc theo lối Khmer còn ngôi chùa Đất Sét nổi tiếng từ Nam ra Bắc lại do người Việt tạo dựng.  Bề ngoài ngôi chùa này trông giống như những ngôi nhà để ở, nhưng khi bước vào bên trong mới thực sự thấy được những nét mỹ thuật sáng tạo. Từ tòa tháp Đa Bảo 13 tầng cho đến tháp Lục Đăng 2 tầng cùng hàng nghìn pho tượng Phật lớn nhỏ đều được nặn bằng đất sét, bên ngoài phủ một nước sơn và dầu bóng nên khi nhìn ai cũng tưởng là các tượng làm bằng đồng. Chùa có 4 cặp nến cao to, cây lớn nhất nặng khoảng 200 kí phải một người vòng tay ôm mới xuể.

 

Sau đó chúng tôi tranh thủ thời gian đi thăm vườn cò Tân Long. Tọa lạc nơi xã Long Bình, huyện Ngã Năm, vườn cò Tân Long là nơi có hàng ngàn con cò đủ loại; nào là cò Ma, cò Quắm, cò Ruồi, cò Đầu Đỏ, cò Xanh, cò Lửa v.v. trú ngụ trên những cây dừa, cây tre quen thuộc của khu vườn gia đình ông Mười. Để quan sát cảnh cò về lúc trời chiều sau một ngày lặn lội tìm kiếm thức ăn hoặc từng đàn bay đi tám hướng tìm kế sinh nhai vào sáng sớm, tôi và Nga leo lên đài quan sát cao 10 thước mà ông Mười đã dàn dựng trong vườn để cho khách viếng thăm có thể thưởng lãm dễ dàng hình ảnh đàn cò bay từ đàng xa với khoảng cách chừng 50 thước, chao lượn dưới bầu trời thênh thang ngút ngàn. Ngoài cò, vườn còn là nơi nương náu của nhiều loại chim như chim Dò Dẻ, chim Chìa Vôi, chim Cồng Cộc. Mỗi khi bình minh ló dạng với những tia nắng đầu ngày le lói nơi phương Đông hoặc những lúc hoàng hôn lơ lửng ráng chiều từng áng tản mạn cuối phương Tây là lúc cả ngàn con cò từng đàn bay lượn dưới bầu trời tạo nên một khung cảnh thật nên thơ, thật trữ tình.

 

Chuyến về nào của Nga, ngoài việc thăm người mẹ già, viếng thăm ba miền đất nước, nàng cũng dành thì giờ đến những làng sâu, thôn xa tìm hiểu đời sống dân tình. Nàng thường tìm gặp những người khốn khó, khổ hạnh để giúp đỡ, an ủi, xoa dịu phần nào đau thương của đời thường.

 

Trong chuyến đi lần này, Nga dẫn tôi đi thăm vài gia đình thật nghèo ở một làng quê của tỉnh.  Khi bỏ nước ra đi mong tìm được chút ánh sáng tự do, Nga cũng đã hấp thụ thêm những kiến thức về văn minh và dân chủ của xứ người. Từ bầu trời Đức Quốc nàng đã theo dõi từng chi tiết những biến chuyển của đất nước Ba Lan, từ cảnh công đoàn Đoàn Kết ở Gdansk vùng lên trong thập niên 80 với chiến dịch ‘Bánh mì và tự do’ cho đến ngày dân chúng Ba Lan reo vui khi thấy ánh nến chân lý leo lét trên con đường đêm tràn đầy tuyết lạnh.  Nga vẫn mang trong lòng một ước vọng sao cho dân tộc mình thoát khỏi nạn nghèo đói, tìm được ánh sáng tự do, một thứ tự do thật sự, không còn tham nhũng, không còn kẻ bạo quyền lấn áp người thấp cổ bé miệng, không còn cảnh những kẻ có quyền thế sống phè phỡn, phủ phê với những chiếc xe du lịch Mercedes, BMW đắt tiền bóng loáng,  những thứ mà ngay cả ở các xứ sở văn minh, tiền tiến chỉ có những người thuộc giai cấp giàu có mới có khả năng mua được, trong khi tuyệt đại đa số người dân Việt Nam thì nghèo khổ, chạy từng bữa ăn khốn khó.

 

Sau khi viếng thăm những gia đình mà Nga đã hoạch định, chúng tôi trở ra đi dọc theo những con đường nhỏ rợp bóng mát lá dừa. Trời sau trưa, nắng đồng mênh mông tản mạn, chúng tôi thả bộ dọc theo con lạch nhặt trái mù u. Gió trưa nhè nhẹ thổi. Nắng từng sợi buông lơi trên những nhánh mù u hoa trắng nhụy vàng, thoang thoảng hương thơm. Trong thực vật học mù u mang tên là Calophylum Inophylum. Dân làng thôn thường ép trái để lấy dầu đốt đèn quanh năm.  Nắng ngút ngàn trên những tàn cây xanh, hây hây phiến gió. Mùi biển mặn thổi về làm căng phồng lồng ngực tôi. Nga vẫn đùa vui trong câu chuyện. Khi chúng tôi đi ngang một căn nhà lá, từ bên trong vọng ra một giọng ca mộc mạc bài ‘Lý Con Sáo’ giữa buổi trưa hè im vắng. Lời ca gợi tôi nhớ lại tiếng đàn tranh ngày trước của Nga. Tôi lơ đãng nhìn lên tàu lá dừa, bâng quơ hỏi:

- Nga còn đánh đàn tranh không?

Nga lắc đầu với nụ cười nửa nhịp rồi cất giọng hát nho nhỏ bài ‘Lý Con Sáo’ chừng đủ một mình nghe.

 

Tôi . . . thương sáo đẹp xinh

Mà phải chịu ở chiếc lồng thường

Ôi! chiếc lồng đan bằng ngọn tre gai

Do tay tôi đan kết đêm ngày

Năm ngang, chín dọc, hai dài

Ngoài chiếc lồng còn bàn tay tôi ôm ấp . . ..

Sáo ơi . .  sáo . . xin sáo đừng chê

Chờ một ngày đời thôi hẩm hiu

Tôi sẽ mua cho sáo chiếc lồng son . . .

                                      (Nguyễn Văn Hữu)

 

Một con chim Chìa Vôi lạc đàn đậu trên nhánh tre già, cất tiếng kêu lạc lõng giữa buổi trưa yên tĩnh làm đám trẻ con Khmer vừa trai, vừa gái, trạc độ 7 tuổi, đang đùa giỡn nhìn lên nửa cảm thông, nửa trêu ghẹo.

 

Khi tôi và Nga sắp sửa bước đến chiếc cầu tre bắc ngang con lạch nhỏ thì chúng tôi thấy một con két xanh, mỏ quặp thọt chân đi từng bước. Dường như con két bị thương nên không bay được mà chỉ khập khễnh bước đi. Vừa đi nó vừa kêu la thảm thiết.  Nhìn thấy con vật khốn khổ, Nga từ từ ngồi xuống đưa bàn tay ra đỡ nó. Không ngờ vì bản năng tự vệ, con két đã mổ vào bàn tay của Nga một cái thật mạnh rồi cố dang cánh bay đi. Nga bị mổ bất ngờ đau quá ôm tay kêu lên:

- Đau quá Duy ơi.

Tôi chụp vội tay Nga ôm chặt vào lòng, xoa nhẹ.

- Rướm máu rồi để Duy băng lại cho.

Tôi rút chiếc mùi xoa từ túi quần ra băng vết thương cho Nga sau khi nặn máu ra phòng ngừa vết thương bị nhiễm độc. Vừa băng tôi vừa thầm nói trong lòng:

- Nga ơi! Lúc nào Duy cũng yêu Nga và muốn chăm sóc Nga. Nga biết không?

Trên cao nắng giao lưu với những nhánh mù u hoa trắng nhụy vàng. Trưa thật mênh mông lắng chìm trong một nét yên tĩnh diệu vợi của phù du.

 

Trên đường về chừng như Nga đã thấm mệt và có lẽ vì vết đau do bị két mổ nên Nga đã ngả người tựa vào vai tôi thiêm thiếp ngủ.  Hay bàn tay tôi vẫn nắm giữ bàn tay Nga mà lòng tràn đầy xúc đng.

 

Tết đã qua từ bao giờ. Và nắng hồng vẫn ngút ngàn trên những nhánh mai tàn mùa hoa nở. Căn nhà chừng như trở nên trống vắng lạ lùng và hương hoa ngày Tết vẫn còn bàng bạc. Những bông mai vàng sót lại từng cánh rơi rụng nằm dãy dụa trên mặt đất chờ gió thoảng cuốn đi. Vâng! Tết đã qua cả tháng rồi và Nga đã rời khỏi thành phố này từ hơn tuần nay nhưng sao tôi vẫn thấy đâu đây nồng nàn hương thơm ngày Tết. Hình ảnh Nga, hình ảnh ngôi chùa Dơi, ngôi chùa Đất Sét, cù lao Dung, con két xanh bên chiếc cầu tre, tiếng chim Chìa Vôi véo von trên tàu lá dừa. . . tất tất vẫn còn xao động trong giếng mắt tôi. Hơi thở ấm áp của Nga vẫn còn đâu đó, nồng nàn quấn quít bàn tay tôi và qua sự đụng chạm thể xác giữa tôi và Nga khi tôi băng vết thương máu rỉ ra từ vết chim mổ, vẫn còn dấy lên một niềm bồi hồi xao xuyến trong tôi.

 

Chạm người em để nghìn năm ghi nhớ,

Thịt da nào thơm giữ mãi môi hương !

 

Nga ơi! Và Nga ơi!

 

Hoàng Huy Giang