NHỮNG
HIỂU BIẾT VỀ ĐÔNG Y
(
Phần 2)
Ngô
Quyền
Trong phần này tôi xin trình bày về BỆNH nói chung,
cách CHẨN BỆNH và các nguyên tắc cũng
như các phương pháp TRỊ
BỆNH.
Nhưng
trước hết tôi muốn bàn về các hiện tượng biến chuyển theo thời gian theo triết
đông, được áp dụng sâu rộng trong Đông y, được gọi là chu trình SINH HÓA, gồm những giai đoạn SINH, TRƯỞNG, HÓA, THÂU,
TÀNG.
Qua
quan sát, người phương đông bảo rằng vạn vật đều chịu tác động của chu trình này. Chúng ta đã thấy đời người cũng biến đổi như
vậy: sinh ra, lớn lên (trưởng), chuyển hóa tới lúc chín mùi thì mọi sự
thu lại (thâu) dần để tiến tới tàng ẩn trong lòng đất và có thể
tiến sang một chu trình mới.
Trong một năm ta cũng thấy bắt đầu bằng mùa xuân vạn
vật phát lên sinh sôi nảy nở, tới mùa hạ thì cực thịnh. “Vật cùng tắc biến” nên
cuối hè (trưởng hạ) thì vạn vật biến đổi (hóa) dịu dần vào thu “để rồi tàn theo mùa đông”. Rồi ... “xuân đã đến rồi”, tưng bừng hoa lá .., tiếp theo là chu trình
mới.
Trong một ngày cũng lại như thế: hết bình minh tới
đứng bóng, rồi xế bóng, chiều tà, rồi đêm tối. Tới nửa khuya, “âm cực thì sinh dương”, bình minh đem lại cho chúng
ta một ngày mới ... Trời rạng sáng thuộc thiếu dương, mặt trời lên tới đỉnh thuộc
thái dương, dương cực sinh âm : ánh sáng yếu dần đồng thời bóng tối lấn dần lúc chiều tà
(thuộc thiếu âm), và cuối cùng thì
bóng đêm hoàn toàn ngự trị ( thuộc Thái
âm). Cứ thế, một ngày mới lại bắt đầu...
Cái “vòng luẩn quẩn” này cũng được đề cập tới trong
Phật học : Sinh, Bệnh, Lão, Tử. Theo cái nhìn bi quan
thì con người ở giai đoạn nào cũng khổ cả. Tứ khổ có diệt được
thì mới thoát ra khỏi được cái vòng luân hồi nghiệp chướng
này.
Trước khi vào chính đề phần 2, tôi cũng xin nhấn
mạnh về thuyết “TAM TÀI”, nói lên sự
tương quan mật thiết giữa con người
(NHÂN) và môi trường sống, đó là bầu trời (THIÊN) và trái đất
(ĐỊA).
Quả vậy, con người sống nhờ khí trời, ánh nắng cũng
như các thực vật tìm được từ đất. Sống mạnh sống hùng là nhờ ở mưa thuận gió
hòa, đất cát phì nhiêu (nhưng nếu có mỏ vàng, kim
cương, uranium hay dầu hỏa thì “sỏi đá cũng nấu thành cơm”
được.
Ngược lại nếu trời đất nổi cơn tam bành, cứ vài cơn
bão lụt đi kèm với tornado, bão tuyết, bão cát, đất truồi, động đất thì “tiêu
tán thoòng” là cái chắc. Bình thường mà nói thì chỉ trái nắng
giở trời là đủ làm cho nhiều người hắt hơi sổ mũi sinh bệnh rồi. Đất hết màu mỡ mà không được cải tạo cũng đủ khó sống rồi.
Nếu môi sinh còn bị ô nhiễm thì còn tai hại biết đâu mà lường
?
Thuyết này còn nói lên sự việc “thuận thiên giả
tồn”, hoặc phòng ngừa né tránh hoặc cố gắng tạo ra khả năng mà thích ứng với môi
trường,chứ đừng tưởng mình là “đỉnh cao của nhân loại” mà có ngày khốn
nạn.
Bệnh
phát sinh ra do 2 nguyên nhân chính : chủ quan và khách
quan. Trẻ mới sinh thiếu tháng, bản chất suy nhược (tiên thiên bất túc) là do
chủ quan, con người sống không mạnh không hùng được. Sinh ra bình thường nhưng
nuôi dưỡng không đủ hay hoàn cảnh, môi trường khắc nghiệt mà sinh bênh tât, chết
non, là do khách quan. Ngoài ra ta còn thấy Đông y chia
ra là yếu tố tác động từ trong hay từ ngoài mà gây nên
bệnh.
** YẾU TỐ
TRONG.
Khi con người không biết bồi dưỡng, tập
luyên sức khoẻ, làm tăng sức đề
kháng phòng ngừa thì bệnh tật tất thừa cơ xâm nhập khi môi sinh bị biến
động.
Lại nữa, nếu ta không tự điều hòa được tính khí thì chính những tình cảm
quá đáng này làm cho cơ thể mất quân bình, chức năng trong cơ thể làm việc rối
loạn thì đây chính là những nguyên nhân sâu xa của bênh tật. Chẳng hạn như người
bệnh đau bao tử do lo nghĩ thái quá, thần kinh Vị bị kích thích mà tiết ra nhiều
vị toan, tác hại vào thành bao tử làm bào sót. Nếu thày thuốc cứ chỉ lo chữa bao
tử không, chữa ngọn mà bỏ chữa gốc thì làm sao hết hẳn bệnh cho
được?
Các bạn đã đọc Đông Chu liệt quốc chắc còn nhớ
chuyện Ngũ Tử Tư chạy trốn tới biên giới nước Sở mà không dám “vượt biên” vì sợ
bị nhận diện mà bị sử tử, ông cũng không dám cải trang vì sợ vẫn bị nhận ra. Thế
mà chỉ qua một đêm lo sợ, buồn bã mà sáng hôm sau râu tóc ông bạc trắng, chắc
diện mạo cũng thiểu não lắm chẳng cần cải trang ông vẫn vượt biên giới
an toàn. Đó là do “khủng (sợ hãi) thương (làm tổn hại)Thận”; mà Đông y nói râu tóc là “ngọn” của Thận nên lúc lo
sợ quá độ khiến râu tóc bạc phơ. Ngũ Tử Tư nhờ đó mà trốn
thoát được.
Chắc các bạn cũng còn nhớ trong Tam Quốc Chí, khi
Thục-Ngô đối đầu, Khổng Minh (quân sư của Lưu Bị) nhờ biết được Chu Du (đại
tướng của Đông Ngô) bị đau gan (có lẽ cancer chăng?) nên đã “tam khí Chu Du”
(trêu tức Chu Du ba lần) đến nỗi Du bị hộc máu ra mà chết. Khổng Minh đã dựa vào
y lý mà “chọc” cho
Nói tóm lại, khi các tính khí đi với tạng-phủ không
giữ được điều hòa có thể tác hại tới tạng-phủ đó. Những tính khí đó là :
Những
điều nói ở trên cần được đi sâu và thêm thí dụ cụ thể mới giải thích cặn kẽ
được. Ở đây tôi chỉ xin khái quát cho
“tạm đủ mặt hàng” mà thôi.
*** YẾU TỐ TỪ BÊN
NGOÀI.
Những yếu
tố tác động từ bên ngoài gây ra bênh tật là những dấy động bất thường trong
thiên nhiên gồm các khí PHONG, HỎA/THỬ, TÁO, THẤP, HÀN. Nếu
những khí này thuận hòa theo bốn mùa mà luân chuyển thì
tốt, ngược lại, nếu chúng vận hành lên tới quá mức hoặc trái mùa khiến cơ thể
không thích ứng đề kháng kịp thì con người sẽ mắc
bệnh.
Có thể nói rằng những thay đổi đột ngột về nhiệt độ
hay về áp suất không khí có thể gây phương hại cho những ai không thích ứng kịp
để đối phó với những thay đổi của môi trường.
Ngoài ra, nói về BỆNH, người thày thuốc Đông y
thường phân ra HÀN / NHIỆT hay GIẢ HÀN / GIẢ NHIỆT mà nói về biểu hiện các chứng
trạng để từ đó mà liệu dùng thuốc cho đúng. Đấy là chưa kể nói người bệnh vốn tạng hàn hay tạng nhiệt cũng khiến người dùng thuốc
phải vô cùng thận trọng cho phù hợp vớI thực tế.
CHẨN
ĐOÁN
Đông-y có
4 phép chẩn đoán bệnh. Đó là Vọng, văn, vấn,
thiết.
Người
“nghe” mạch cần tĩnh tâm, lỏng tay (relax) mới cảm nhận
thấy rõ đươc “lối đi” của mạch mà cảm thông được với những bất thường trong
người bệnh nhân.
Quan trọng nhất là mạch thốn khẩu, nằm ở trên động mạch cổ tay, có 3 vị trí: thốn, quan và xích tương ứng với các TẠNG, PHỦ. Bên
trái, thốn ứng với TÂM, quan= CAN, xích= THẬN ÂM. Bên
phải, thốn= PHẾ, quan= TỲ, xích= THẬN DƯƠNG. Khi đè nặng
tay thì thăm dò những PHỦ tương ứng. Xem mạch cũng cần
xem tổng quát cả 3 bộ vị, gọi là tổng
khán, rồi mới “đơn khán” từng bộ vị. Ngoài mạch thốn khẩu còn có những mạch khác nằm ở một số huyệt quan
trọng (trên động mạch) trên cơ thể.
Theo các cổ thư, ở thời phong kiến, các ngự y xem
mạch cho các hoàng hậu, phi tần
không dược chạm dụng chạm vào cơ thể họ mà phải ngồi cách một cái màn ngăn che,
bắt mạch trên 3 sợi chỉ, buộc chạy qua 3 mạch thốn khẩu (thốn, quan xích). Như
thế thì quả thật là các cụ ngự y này “siêu” quá. Các vị được chọn làm ngự y thì tất phải giỏi rồi nhưng sơ sẩy một
chút là mất mạng như chơi. Còn như nghe nói các đông y sĩ xem mạch cho
các mệnh phụ cũng phải trải một miếng vải mỏng lên tay
người bệnh mà xem mạch. Điều này dễ tin hơn, phải không các
bạn?
Tôi không
dám lắm lời ở đây vì nói sao cũng không đủ. Cố đông
y sỹ Định Ninh phải viết tới 268 trang cuốn “Định Ninh tôi học mạch” mà vẫn thấy
còn nhiều điều muốn nói nữa. Cụ cũng kể chuyện xem mạch cho một bà, ông chồng
đứng sát bên. Lúc ra về cụ nghe thoáng thấy ông chồng hỏi vợ: “ Sao lúc nãy ông thày cầm tay cô lâu
vậy?”...
Người thày thuốc thường phối hợp các phép chẩn nói
trên để tìm hiểu rõ bệnh trạng mà cho thuốc, hoặc quyết định chữa theo một phương pháp khác, hay nếu cần, kết hợp nhiều phương
pháp trị liệu với nhau.
Đông-y thường dựa vào những nguyên tắc sau đây để
chữa bệnh :
Nói chung, Đông-y thường
nhằm hóa giải môi trường để tác nhân không có điều kiện mà tồn tại, chứ không
chủ trương tiêu diệt tác nhân. Đây quả là lối giải quyết
“vương đạo” của Đông-y vậy.
Từ ngàn xưa, y và dược luôn liên quan mật thiết với
nhau, nhất là đối với Đông-y, các thày thuốc ngoài thời gian chữa bênh còn dành
nhiều thì giờ đi tìm hái thuốc, sao tẩm cho đúng ý mới đem dùng. Ngày nay tuy
các vị thuốc đã có những nhà bào chế đông dược cung ứng nhưng những hiểu biết về
dược liệu nói chung vẫn vô cùng hệ trọng đối với “ông thày”, nhiều người còn
phải tự mình sao tẩm mới được, cũng như phải chính tay mình “bốc” thuốc chứ
không để cho người bệnh ra tiệm “cân” thuốc. Những người này thường là các tu sĩ
kiêm y sĩ, có nhiều cảm thông với người bệnh nên “linh” tay, bốc thuốc mới chính xác với nhu cầu của người bệnh. Có
kẻ lưu manh lợi dụng điều này làm thuốc “gia truyền”(có
thêm ma túy) gây tai hại không nhỏ tới người bệnh đã quá tin vào người giới
thiệu. Đây chính là trường hợp của một người thân trong gia đình tôi, được giới
thiệu với "ông thày Miên" nào đó, không thường trú nơi nào cả, cho uống một thứ
thuốc đen đen như than tán, chữa bách bệnh. Bệnh nhân sau khi uống vào, mới đầu
thấy "có vẻ" đỡ, nhưng sau người nhà thấy người bệnh hành động như điên dại, sợ
quá vội ngăn lại. Thuốc này nếu không có ma túy thì hẳn phải
có ma thuật mới câu khách thường xuyên được. Khi tìm
kiếm thì chính người giới thiệu cũng không biết "ông thày" ở đâu cả.
"ông thày" này quả thật là "thiên hạ đệ nhất ác" đương
thời. Cách đây khoảng 6 tháng, tôi nghe nói có ngườI thấy ông
ta xuất hiện ở nam
Từ những nguyên tắc tới những phép trị liệu trong
“lâm sàng”(lâm=tới; sàng=giường bệnh , chỉ việc trực
tiêp chữa bệnh) còn có một khoảng cách rất lớn, đúc kết rất nhiều kinh nghiệm
cho một lương y.
Trong một y-án trong cuốn Châm Cứu, bác sĩ Jean Lami
nói tới trường hợp của một bênh nhân đã được mấy bác sĩ khác chữa về bệnh tim mà không thuyên giảm. Khi đến phòng mạch của Bs. J. Lami,
sau khi chẩn bệnh lại kỹ càng, ông chữa theo chứng đầy
hơi trong bao tử (có chứng trạng tức ngực giống như bị đau tim) thì người bệnh
thuyên giảm dần, rồi khỏi bệnh. Các bác sĩ Pháp thời đó cũng
lầm lẫn thì đủ hiểu chẩn bệnh cho chính xác quan trọng đến chừng
nào.
NHỮNG
PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU
Những phương pháp trị liệu thường thấy của đông-y
gồm :
Nói tóm
lại, Đông-y cũng có nhiều sở trường nên đã được Tây-y dần dần chấp nhận. Thế nên ở nhiều nơi trên thế giới đã có những học viện Đông-y Châm
cứu, đào tạo ra các OMD (Oriental Medicine Doctor) hành nghề hợp pháp. Ở
Việt Nam, tại Hà-Nội, Viên Thừa Kế Đông Y đang làm công viêc bảo tồn những gia
phương truyền lại cho thế hệ sau. Tại Sài-Gòn,Viện Y Dược Học Dân Tộc cũng đã và
đang kiểm tra và cấp bằng hành nghề cho các thầy thuốc Đông y cũng như cổ động
và truyền dạy cho rất nhiều học viên, trong đó có cả người ngoại quốc nữa. Rất tiếc khi có ai (trong đó có tôi) đề cập tới Đông-y Châm cứu với
bác sĩ Tây-y thí hầu như mấy ông này đều có thái độ tiêu cực. Họ tiêu cực là phải vì họ đâu có hiểu gì về Đông-y đâu mà bàn, hoặc
họ chẳng có thì giờ để tìm hiểu nữa. Ngày nay Tây y quá
phong phú nên mất nhiều thì giờ để đào tạo y-sĩ. Ra bác
sĩ rồi vẫn còn phải học thêm những gì mới khám phá để không bị lạc hậu.
Tuy nhiên ai học cứ học, hành cứ hành, nghiên cứu cứ nghiên cứu, tôi vẫn mong có
ngày có một vị “tu bíp” tài cao lại cởi mở , để “cặp
mắt xanh” vào tìm hiểu được những sở trường của Đông-y mà kết hợp thì nền y học
nói chung (Đông-Tây phối hợp) phải tiến được một bước thật dài. Thực ra ở Âu
châu, nhất là Pháp, Đức đã có nhiều vị nghiên cứu rất sâu về Đông-y Châm cứu như
Bs. Nguyên Văn Nghi (nguyên hội trưởng Hội Châm cứu quốc tế), Bs. Roger De La
Fuye, Bs. Chamfrault, Bs. Jean Lami, v.v. ... Nhưng con số những người này chỉ
như muối bỏ bể, trong khi Tây-y đang tiến nhanh những bước nhảy vọt, lớp sóng
sau đè bẹp lớp sóng trước với nhiều sai lầm của thời
trước.
PHỤ
BẢN :
NGŨ HÀNH SINH KHẮC CHẾ HÓA
A.- SINH
Nếu bắt đầ từ MỘC ở trên
đỉnh một vòng tròn, vẽ vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, tới HỎA, tới THỔ, tới
KIM, tới THỦY rồi trở lại MỘC, ta có chu trình sinh (hưng thuận hay chiều
dương) : ta lấy hai khúc củi (mộc)cọ sát mạnh vào nhau sẽ phát sinh ra
lửa (hỏa); vật bị lửa thiêu đốt sẽ cháy ra tro đất (thổ); tuy đất(thổ) không
thật sinh ra KIM nhưng ta tìm thấy kim loại trong lòng đất; đến KIM sinh
THỦY thì thật khó giải thích quá, phải chăng người xưa đã biết thủy ngân là kim
loại? Cuối cùng thì chắc ai cũng đồng ý là mưa xuống thi cây cối mọc lên tươi
tốt hoặc muốn cây không bị chết khô thì phải năng tưới nước chứ ; như thế thì đúng là THỦY sinh (dưỡng) MỘC
rồi.
B.- KHẮC
Vẫn giữ vị trí như trên,
ta kẻ thẳng từ MỘC sang THỔ, thẳng
xuống THỦY, tiếp tục thẳng lên HỎA rồi thẳng xuống KIM và lại xéo lên MỘC, ta có
hình ngôi sao 5 cánh của chu trình khắc. Ta lý luận :
cây cối (MỘC) mọc lên tốt quá thi đất (THỔ) mất đi nhiều màu mỡ; người ta lấy
đất (THỔ) đắp đê điều để ngăn nước lụt (THỦY); dùng nước để chữa cháy là dùng
THỦY để khắc chế HỎA; dùng lửa nóng
nấu chảy kim loại (HỎA khắc KIM); và dùng rìu đốn củi, cưa để xẻ gỗ là lấy KIM
khắc MỘC vậy.
C.- PHẢN SINH
Nhưng khi “con” quá lớn
mạnh thì “mẹ” lại bị tiêu hao, mòn mỏi. Đây là trường hợp của
sự phản sinh. : MỘC tuy sinh HỎA, nhưng lửa lớn quá lại tốn củi;
HỎA tuy sinh THỔ đấy nhưng người ta cũng còn dùng đất để giập tắt lửa kia mà. Trữ lượng mỏ kim loại lớn
thì lượng đất phải ít đi chứ? Khi bị đun chảy thì kim
loại không cón cương mãnh nữa. Cũng lại như thế, muốn cho cây cối tốt tươi thì
tất nhiên phải tốn nhiều nước rồi.
D.- PHẢN KHẮC
Đây
cũng lại là một trường hợp phản ứng ngược nữa. Tuy MỘC khắc THỔ nhưng nếu đất
cứng quá thì cây mọc lên không nổi. THỔ khắc THỦY, nhưng nếu nước lớn quá
thì củng vỡ đê thôi (vỡ đê thật chứ không phải là “vo đe” đâu đấy nhé). Cháy (HỎA) lớn quá thì phun nước vào đến đâu bị bốc hơi đi đến
đó. HỎA tuy khắc KIM nhưng người ta cũng dùng lửa để tôi thèp, luyên
kim cho tốt bền hơn.
Nói tóm lại, theo quy luật thiên nhiên, Ngũ hành có
nguyên nhân và hậu quả liên quan rất mật thiết, hoán chuyển “chủ khách” với nhau
để tạo thành quân bình cho cơ thể. Nhưng lúc bién loạn, hoặc quá dư thừa (hữu
dư) hay quá thiếu kém (bất túc) gây bệnh cho con
người.
SÁCH THAM
KHẢO
·
Hoàng Đế nộI
kinh : Linh Khu, Tố Vấn, Nạn Kinh
(cổ thư Đông-y) Gs. Huỳnh Minh Đức dich
·
Dịch lý - Y
lý
Gs. Huynh Minh Đức dịch (1988)
·
Đông y
Xybecnêtic
Bs.
Trần Văn Tích
·
Tư Tưởng Lão
Trang trong y học Đông Phương Bs. Trần Văn
Tích
·
Lâm Sàng
chẩn đoán Đông-y Học
L.y. Nguyễn Đồng Di
·
Tuệ Tĩnh
toàn tập
Tuệ Tĩnh thiền sư, y tổ
thuốc
·
HảI Thương Y
Tôn Tâm Lĩnh
HảI Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
·
Luận trị
Thấp Nhiệt, Hàn Thấp. …
Cố L.y. Định Ninh
·
Giáo trình
Thương hàn & Ôn bệnh Học
L.y. Nguyễn Trung Hòa
·
Châm Cứu Cổ
Diển
George S. de Morant (bản dịch)
·
La Medecine
Chinoise (Pathogenie+Pathologie) Dr. Nguyễn Văn
Nghi
·
·
L'Acupuncture Chinoise
Dr. Chamfrault
·
·
Théorie
& Pratique de l'acupuncture
Jacques Lavier
·
Acupuncture,
The Ancient Chinese Art of Healing… Felix Mann
(1973)
·
Handbook for
the Barefoot Doctors of
·
Châm Cứu -
Thần Kinh Trị Liệu
L.y. Thượng Trúc
·
Châm Cứu
Học
Cố Lương y Nguyễn Văn Ái
·
Châm Cứu Học
Giảng Nghiã
Bs. Quan Đông Hoa dịch
·
Châm Cứu
Thực Hành
L.y. Nguyễn Hữu Hách
·
Thời Châm
Cứu Học
Bs. Nguyễn Văn Thang
·
Linh Quy Bát
Pháp
Gs. Huỳnh M. Đức dịch
·
Bản Du
Gs.
H.M.Đ. dịch
·
Cửu Châm
Thập Nhị Nguyên
Gs. H.M.Đ. dịch
·
Chinese
Acupunture
Dr. Chuang Yu Min
·
An Outlineof
Chinese Acupuncture Hàn
lâm Y-học Cổ truyền Bắc Kinh (1975)
·
Dông-y Lược
Khảo
Ds. Đỗ Đình Tuân
·
Phát triển
Phương Pháp Luận Đ.Y.
Bs. Trương Thìn
·
Thực Hành
Châm Cứu Luận Trị
Bs.
Trương Thìn
·
Châm Cứu và
Biên chứng Đông y học
Bs. Trương Thìn
·
Định Ninh
Tôi Học Mạch
Cố L.y. Định Ninh Lê Đức Thiếp
Châm Tê (Tổ biên soạn Thượng Hải)
Bs. Hoàng Bảo Châu
dịch (1974)