Độc tài

Yếu tính của lãnh đạo

 

 

 

Mạc trần

 

 

 

 

lãnh vực văn thơ có người cho rằng, xét một bài thơ phải xét bốn khía cạnh: ý, tình, lời, điệu.   người  lại cho rằng, phải xét tới năm khía cạnh mới đủ: ý, tứ, tình, lời, điệu. Theo lối nói của Tây phương thì tứ chính là cái nghĩa ở giữa các dòng chữ. Còn theo ta thì tứ là nghĩa ẩn tàng trong ý, là điều tác giả muốn nói nhưng không nói thẳng mà ẩn giấu trong chữ, trong lời. Vậy tứ là sự chuyển hóa suy tư thành tình cảm... Tứ chính là tình tự đặc thù. Trong dân gian thường nôm na gọi người khéo ứng xử là người ý tứ. Nếu thế, tứ là điều cần yếu chẳng riêng gì của thơ, mà phải là của toàn bộ phạm trù văn.

 

Ngôn ngữ, nói năng, chữ nghĩa là biểu trưng của nhân văn, và là qui ước tối quan trọng của tương giao con người. Vấn đề quá lớn nên cũng không thể tránh được những trục trặc trong tương quan giữa cá thể với toàn bộ mênh mông ấy. Trục trặc dễ thấy nhất là sự không hiểu nhau, dù trong cùng một ngôn ngữ. Sự mất cảm thông này, gây ra bởi nhiều duyên cớ. Có thể do chênh lệch trình độ kiến thức, khác biệt thành kiến, thói quen, và do ảnh hưởng môi sinh dị biệt...

 

Thử lấy một thí dụ khá quảng bá trong xã hội là tiếng  độc tài.

 

Không hiểu tiếng  độc tài  phổ quát trong xã hi từ  lúc nào; có lẽ từ  thập niên 40 của thế kỉ trước (TK 20). Nói vậy, nhưng cũng không hoàn toàn xác định được thời gian. Tiếng độc tài  đã bị người đời ghê sợ, và là chiêu bài hạ bệ nhau, cùng là mũ độc ''kim cô'' chụp đâu là nguy đấy của những người hoạt động chính trị,và là đề tài  nghiên cứu cùng mạt sát nhau của giới học hỏi.

 

Cứ có ai đứng ra hô hào quần chúng để tranh đua với đối thủ thì đều gọi đối thủ của mình là độc tài, và như vậy là có sự hưởng ứng. Muốn hạ bệ người nào, hay tập đoàn cai trị nào, thì cứ gọi họ là độc tài là thấy việc tranh dành của mình có chính nghĩa ngay.

 

Tiếng độc tài cho tới nay đã trở thành tiếng khủng khiếp, ai nghe thấy cũng lạnh người. Xỏ xiên ai, hận thù ai, muốn hạ bệ ai, muốn đả phá ai bất kể vì thứ gì, thì cứ chùm lên họ cái áo độc tài là mình dễ bề hành động.

 

Thế rồi đảng phái, tổ chức thường lớn tiếng quả quyết là mình thực thi dân chủ và chống độc tài để kêu gọi ủng hộ. Theo như kiểu vận động đó, thì đã ngụ ý rằng độc tài và dân chủ là hai tác hành xung khắc, đối chọi. Thế nhưng, thực tế độc tài với dân chủ chẳng những không xung khắc, đối chọi mà còn bổ túc cho nhau . Tuy vậy, khẩu hiệu ''chống độc tài'', ''không độc tài'' lại được mọi người thuận tai hơn. Sự kiện thuận tai này, một phần cũng gây ra bởi sự  quen tai từ những vận động chính trị ngay lúc đầu của giới hoạt động. Những người này sai lạc vì sự hiểu lầm,và cũng có thể vì dụng ý. Thế nhưng thành kiến đó đã thành nếp của suy nghĩ trong đám đông.

 

Tiếng độc tài là tiếng dễ gây ấn tượng khủng khiếp như áp bức, đè nén, bạo tàn... Nói chung là mọi ý niệm xấu đều được gợi ra để phủ lên tiếng độc tài.

 

Nói tới dân chủ, dễ gây ấn tượng quyền hành cho lũ đông, êm ái và công bằng,làm mọi người dễ được thoả mãn mặc cảm quyền năng.

 

Khi nói tới các hình thái điều hành xã hội, mà lồng vào đằng trước các hình thái đó ( một lối gọi thông thường khác về các hình thái điều hành xã hội là: thể chế) bằng tiếng độc tài thì dễ gây cho mọi người sự căm ghét. Chẳng hạn nói: độc Tài Phong Kiến, độc Tài Quân Chủ, độc Tài  đảng Trị, độc Tài Pháp Trị, độc Tài Quân Phiệt ... thì các thể chế đó trở thành cực kì đáng ghét ngay. Thực ra, tự những thể chế này đã có những điều hay, điều dở, điều tệ hại, điều bạo tàn của nó, nhưng gắn tiếng độc tài vào thì nó chỉ dở, chỉ tệ chứ không thể có gì đáng thông cảm.

 

Hình thái điều hành xã hội (thể chế), có vùng điều hành to hoặc nhỏ tùy thuộc vào tài năng lãnh đạo, và năng lực của thể chế. Cũng có ý kiến khác thêm vào khía cạnh năng lực, tài năng của lãnh đạo thể chế là số mệnh. Lối lí luận này cho rằng tài năng và năng lực chưa đủ để bành trướng chế độ mà cần phải có số mệnh. Và nói chung sự thịnh suy của một chế độ tùy thuộc vào vận số của nhân sự ở toàn vùng quản chế, và một phần cũng do vận số của chính chế độ, cùng vận số của người sáng lập, hoặc người điều lí thể chế. Tất nhiên, ý kiến này chưa nghiệm chứng bằng khoa học, mà mới chỉ thuần túy căn cứ vào các ràng buộc của những diễn biến lịch sử. Qua kinh nghiệm lịch sử, mỗi khi khởi nghiệp hay chung cuc một thể chế, thì đều tắm nhuộm bằng máu và nước mắt. Có lẽ cái giá trao đổi của mọi biến chuyển lịch sử chỉ là xương máu. Máu xương là bản vị độc nhất để trả giá cho mỗi thể chế, mỗi biến chuyển lịch sử. Nếu cười là biểu trưng của nhân tính thì ''cười ra nước mắt'' phải chăng là biểu hiệu của trường tồn.

 

Với luận cứ của hầu hết giới hoạt động, và giới học hỏi ở vài thập niên vừa qua tới nay, thì khái niệm độc tài là khái niệm mang ấn tượng khủng bố,và đã trở nên tiếng đầu môi chót lưỡi của người đời dùng để chửi rủa thóa mạ nhau. Hay nói cho có vẻ thời thượng một cách khéo léo là ''chụp mũ'' độc tài cho nhau. Trong ngôn ngữ chanh chua ngoa ngoét của thế tục thì độc tài được cụ thể bằng tiếng ''đồ'', ''thằng'', ''quân''... như ''đồ độc tài'', ''thằng độc tài'', ''quân độc tài''... một cách rất khinh bỉ.

 

Thế nhưng trên quan điểm sử, quan điểm như thị, quan điểm ngữ nghĩa thì vấn đề độc tài như thế nào ?.

 

Trên khía cạnh ngữ nghĩa, độc tài là tiếng Việt mượn hai tiếng Hán Việt ''độc'' và ''tài'' ghép lại. Trong nghĩa Việt của tiếng ''độc'' (lưu ý, tiếng này dù là tiếng Hán Việt cũng chỉ viết bằng chữ quốc ngữ, và không phải tìm cách viết bằng chữ Tàu theo một số quan niệm nô lệ. Thực tế, có rất nhiều tiếng Hán Việt chỉ dùng trong câu tiếng Việt, mà không có trong tiếng Tàu. Tất nhiên, nhữngtiếng này không thể tìm thấy trong tự điển Tàu như, Từ Hải, Khang Hi, Thiều Trửu ... đấy là trường hợp nếu viết những tiếng đó bằng chữ Tàu. Bởi vì, tiếng Hán Việt sử dụng trong câu văn Việt được hiểu theo nghĩa Việt) (lại cần mở ngoặc thêm một lần nữa, vì rất nhiều người Việt Nam, chính mình đã tự đồng hóa với văn minh Trung Quốc, chính mình đã tự tiếp tục gây ra sự lầm tưởng rằng văn hóa Việt Nam chỉ là hệ luận của văn hóa Trung Quốc để cho Trung Quốc cứ coi Việt Nam như là một nước phụ dung, và khiến các nước khác ngộ nhận Việt Nam chỉ là một nước thần phục Trung Quốc.Thật đáng nhục nhã)  được hiểu theo hai cách; ''độc'' là nguy hiểm, có hại, ác, như các tiếng: độc ác, độc hại ... Và ''độc'' chỉ là một, là duy nhất, là chuyên nhất, như các tiếng: độc nhất, độc hành... Trong tiếng độc tài, độc được hiểu theo nghĩa độc nhất, chuyên nhất. Tuy nhiên cũng có người dùng với nghĩa ''độc ác'' để tỏ ra mình khéo chơi chữ, mà chửi xéo cái ''tài'' của tiếng này. Nhưng đó không phải là cách dùng nghĩa chữ chánh đáng.

 

Nếu hiểu độc tài là sử dụng, thực thi ''tài'' một cách chuyên nhất, hay cũng có thể hiểu là chỉ có một cách thực hiện ''tài''. Muốn chuyên nhất được tài, thì điều quan trọng là phải có tài. Vậy ''tài'' được hiểu như thế nào.

 

Tài là khả năng thực hiện, hay khả năng tác động, hoặc khả năng hoàn tất sự việc ... Trong cuộc sống, khả năng thực hiện bất cứ tác động gì đều gọi là tài; Như trong các tiếng kép tài năng, tài bồi, tài làm việc gì, hay tài thực hiện sự việc gì đó, như tài làm nhà, tài làm bếp...Trong tiếng độc tài, thì điều cần thiết để độc tài là phải có tài. Những tài cần thiết đó là những tài gì ?. để có thể độc tài, thì phải có đầy dủ ba tài (tam tài): Tài đức (Tài Năng và đức Hạnh), Tài Lực, Tài Chánh.

 

Tài đức là Tài Năng và đức Hạnh. Tài Năng được hiểu là khả năng đặc biệt của cá nhân trong lãnh đạo. Tài năng cũng là khả năng điều hành, thuyết phục và lôi cuốn của lãnh tụ và của chánh sách. đức Hạnh: đức là đạo lí làm người, là điều thiện; Hạnh là phẩm hạnh, là nết na, là làm việc thiện, việc tốt.

Tài Lực, quyền uy của lãnh tụ và tập thể lãnh đạo. Tài lực cũng là sự tuân phục quyền uy lãnh đạo, hoặc giả là uy lực phụ giúp của tập thể, hay lực lượng hỗ trợ. Cũng là khả năng gây dựng uy thế lãnh đạo trong tập thể quần chúng.

 

Tài Chánh; Tài chánh là bản vị phát triển kinh tế để bồi dưỡng chế độ, và cũng là khả năng tạo lực bồi đắp kinh tài phát triển chế độ.

 

Nôm na để gọi ba tài này trong yếu tố điều hành là Tài, Lực, Tiền . Vừa có như nền tảng phát động, và vừa là yếu tố gây dựng để bảo tồn sự chuyên nhất. Xem thế, như tiêu đề nêu ra, độc tài  yếu tính của lãnh đạo, thì hãy thử nhìn qua khía cạnh lãnh đạo xem độc tài được ý thức như thế nào ?.

 

Nếu lãnh đạo được hiểu là điều lí, hướng dẫn, tiên liệu  để đưa toàn bộ tiến tới, thì độc tài là yếu tố quan trọng để hoàn tất  việc điều lí toàn bộ mà đạt mục đích tiến tới.Trong nghệ thuật lãnh đạo cũng đoan quyết rằng, không thể đa tạp lãnh đạo mà phải chuyên nhất. Vì điều trọng yếu là sự điều lí phải như một. Thử nhìn qua tiếng Anh, Pháp, thì độc tài là dictator, dictateur, với chữ của tác động là dictate, dicter, và chữ chỉ việc là dictation, dictée. Dictation, dictée ta chuyển ngữ là chính tả, hay ám tả. Với trường hợp này, viết chính tả chỉ có thể viết được với điều kiện có một lời đọc, chứ cả chục, cả trăm lời đọc khác nhau thì làm sao viết nổi. Người viết thì bao nhiêu cũng được, nhưng người đọc, câu đọc, bài đọc, lần đọc trước, lần đọc sau phải ''duy nhất''(chuyên nhất, y như), không thể bát nháo, loạn nhào được.Từ ý nhỏ đó mà suy ra, độc tài chính là yếu tính của lãnh đạo vì nó mang độc nhất tính.

 

Tuy vậy, cứ theo ngữ ý của tiếng Việt, thì lãnh đạo là sự hướng dẫn theo chiều tiến tới, cũng đã ngụ ý tính ''độc nhất'' trong lãnh đạo. Nếu hướng dẫn bằng đầu đa tạp, hướng theo muôn ngả, thì có khác gì xé nát tập thể. để ví von cho rõ ý toàn cảnh nhiều đầu giằng kéo này, thì hình ảnh khủng khiếp ''tứ mã phanh thây''(một hình phạt trong tội tử đời xưa) mà ví thì có khác chi. Cứ mà nhiều đầu hướng dẫn, tất sự thể sẽ hư nát. Dân ta đã kinh nghiệm bao ngàn năm cái tình huống nát bét này, đã xẩy ra ở mọi nơi, từ gia đình tới quốc gia xã hội. Mà đó cũng là lí do làm hư nát  mọi sự việc của cuộc đời, nên đã tóm tắt vào lời dạy

 

                  Lắm thầy thối ma

                  Lắm cha con khó lấy chồng

 

Ma chay là sự tỏ bày lòng hiếu đễ, nhân nghĩa của người sống với người ''ra đi'',và cũng là để đối với người sống (thân nhân người của ra đi). Theo vũ trụ quan của người Việt, sống là ''sinh thời'',còn chết đi là ''sinh thì'' vào cõi vĩnh cửu (thời=thì=lúc) (là lúc vượt cõi không để vào cõi vĩnh hằng). Ma chay là sự việc trang nghiêm và bi thương, thế mà có ''lắm thầy''(lãnh đạo) cùng điều lí sự việc thì ''thây ma'' chỉ đến sình thối chứ nào mà được tiễn đưa ''trang nghiêm, bi thiết''.

 

đến việc thành thân, nên vợ nên chồng, là tác đng nhân văn vĩ đại để gây dựng sự trường tồn vĩnh cửu của nhân loại, thế mà ''lắm cha''(lãnh đạo) chỉ trỏ, hô hoán bắt phải theo thế này thế kia, thì việc dựng vợ gả chồng thành ảo tưởng, tất hẳn viễn tượng ''tuyệt chủng''kề ngay đó.

 

Chuyện nhân quần cục bộ thì như thế, tới lãnh vực xã hội, quốc gia, cái mà đời nay mấy người tranh giành lãnh đạo, và những người học hỏi lãnh vực này, cũng thường làm thầy dùi, vẫn hô hào vận động cho cái gọi là ''nhiều thầy'' ''lắm cha'' (chống độc tài) .Có nghĩa là đề cao ''đa tài''. Nhưng rồi, các ''tài'' này khi được ''đa tài'' thì chẳng ''tài'' nào nhận ''tài'' kia là ''tài'', mà chỉ mình là ''tài''. Tới lúc đó không hiểu hồn ma ''độc tài'' mà quý vị ''đa tài'' đã ra sức giết, có lại hiển hiện để ''điều lí'' không ?.

 

Trong cuộc đời có những chuyện trớ trêu, mới đầu cứ tưởng nói vậy cho xong, thế mà thành ''thói'', đến nỗi cái sai quấy lại thành lệ. Rồi khi nói cho đúng với ý ''thực'' lại bị ''thói quen''của người đời bác bỏ.

 

Có học gỉa Tàu viết về các tệ trạng của chế độ quân chủ ở Trung Hoa với ý trách các ''thánh'' triết (các học giả Tàu đời xưa) của họ là đã không phản đối những ''tệ trạng'' đó mà còn a tòng ca ngợi, đến mức thần thánh hoá những hành động ''dâm ác'' của các tên ''dâm tặc'' bằng kinh điển (sách Lễ Kí) (các vua Tàu, theo kinh điển, mỗi vua có 120 vợ. đời Chu và đường, mỗi vua có 3000 vợ).

 

các dân tộc khác thì không rành, vả lại cũng là chuyện của người ta, nhưng ở người Việt mới là điều phải nói. Cái tệ đó là trong học giới, nhiều người đã tốn công, mòn quần nơi trường ốc, tốn phấn, mòn bảng nơi học viện để rồi lại về phe với các người vì tranh giành bả vinh hoa mà tạo ra ngụy ngữ, ngụy ngôn khiến người đời sinh ra phân vân mỗi khi dùng tiếng nào đó. đây, nói gần thì như tiếng ''độc Tài''.

 

điều con người phải chống không phải là độc tài, vì đấy là yếu tính của lãnh đạo. Còn nhân quần, còn đoàn thể, còn xã hội, còn quốc gia, còn thế giới thì phải còn ''lãnh đạo''. Như vậy chống ''độc tài'' có khác chi chống ''lãnh đạo''. Có khác chi cổ động cho ''hỗn mang''. Cái điều con người phải chống, phải tiêu diệt là lãnh đạo ''bạo tàn'' ''bạo ngược'' ''bạo quyền'' ''bạo chính'' ''bạo lực'' ''độc đoán'' ''độc trị'' ...

 

Ví dụ, cụ thể như nhân loại chống Cộng Sản vì chúng là bạo quyền, hành động chuyên chính bạo tàn. Chúng là mục tiêu phải diệt trừ để giải cứu con người.

 

đời xưa, ở thời phong kiến, quân chủ mà sách vở còn để lại thì không thấy việc chống các thể chế đó, mà chỉ chống các tên hôn quân, bạo chúa. Chẳng hạn như ở Tàu, Mạnh Tử khuyên bảo mọi người rằng ''Quân hữu đại quá tắc gián, phản phục chi nhi bất chính tài dịch vị'' có nghĩa là ''vua sai lầm thì can gián, nếu tiếp tục sai lầm (hôn quân) thì truất ngôi đi''.

 

Thời nào cũng vậy, thể chế chỉ là hình thái phô diễn mối tương quan giữa lãnh đạo và quần chúng. Vậy thể chế là cái vỏ của tác động chính trị, ví như y phục của người ta. Y phục thay đổi tùy thời. Y phục thay đổi kiểu này,kiểu khác chỉ là tùy ý, tùy thích, tùy hoàn cảnh... của con người. Còn nền tảng là thân thể người ta vẫn phải như nhất,liền lặn ''đầu, mình và chân tay'', bộ phận nào, trách vụ đó. Dân gian ta vẫn thường nói ''y phục xứng kì đức'' là vậy.

 

Về chuyện ''dân chủ và lãnh đạo'', thì có câu chuyện nhỏ hay hay. Tại phòng ăn trưa của một cơ sở vùng Bắc Mĩ có yết một câu chuyện phiếm. ''Một ngày kia, các bộ phận trong cơ thể vì ghen tức với vai trò lãnh đạo của cái đầu, bèn cùng nhau kéo lên thiên đình khiếu nại với trời. Các bộ phận lần lượt trình bầy về phần vụ của mình. Bộ phận nào cũng cho rằng chỉ mình mới đáng ở vai lãnh đạo. Thế là tranh cãi ỏm tỏi, trời thì phân vân không biết quyết định ra sao. Sau cùng hậu môn đưa ra điều kiện cuối để tranh vai lãnh đạo, là nếu không cho hậu môn vai lãnh đạo thì sẽ đình công, không làm việc nữa. Sau khi bàn cãi suy tính gần xa, các bộ phận thấy quả là tối nguy hiểm, nên đồng ý để hậu môn làm lãnh tụ''

 

Câu chuyện có ngụ ý rất gần là đa số cấp lãnh đạo đều ''thối''lắm, thế nhưng lại rất cần. Vì hâu môn ''đình công'' vài ngày thì chỉ có chết. Lãnh đạo, dù ''thối tha'', mà thiếu vài ngày là tập thể nát ngay. Câu chuyện lại muốn nói, thứ lãnh đạo chỉ giỏi hành người, chứ mình thì đã ở ''thấp'' lại ''nặng mùi''mà thích làm ''le''. Suy rộng hơn, đó chính là thứ lãnh đạo bạo tàn, hôn quân, bạo chúa ...chắc chắn phải tẩy bỏ cho sạch, loại trừ cho dứt để trả trách vụ lãnh đạo cho cái ''đầu'' trong sáng, minh mẫn. Lãnh đạo mà hôn mê, bạo ngược thì có khác gì ''lãnh tụ'' trong câu chuyện nhỏ này.

 

Cái điều oái oăm đáng nói nữa là, vận động tranh giành thì ngoa ngôn xằng bậy cũng là thường, nhưng người nghiên cứu tinh tường mà phụ theo cái sự ngoa ngoét  lầm lẫn để tranh giành quyền vị, mà lớn tiếng cho rằng độc tài và dân chủ xung khắc nhau mới là lạ lùng.

 

độc tài là thực thi nghiêm chỉnh những gì ''dân chủ'' quyết định. Như vậy ''độc tài'' và ''dân chủ'' là thuận, là hỗ tương mật thiết chứ đâu là xung khắc. ''Dân chủ'' với ý là quyền của thiên hạ, quyền của tập thể, là công thể. Cụ thể là thắng thế của đa số. Nghĩa này đưa đến hệ luận đại biểu, đại nghị. Như thế có nghĩa là, ai được sự thỏa thuận của thiên hạ (đa số) sẽ là lãnh tụ để điều lí sự việc chung. Sự thỏa thuận của tập thể có nhiều hình thức. Các hình thức này thay đổi theo tiến trình lịch sử của con người. Nói một cách khác, các hình thái lãnh đạo tùy thuộc vào tiến trình thăng hoa trí năng của loài người. Tuy vậy, sự thỏa thuận của tập thể để lập lãnh tụ là tác động có từ muôn thủa.

Nước Tàu, láng giềng phương bắc của nước ta, hai nước giao thiệp từ khá lâu đời. Trong mối giao thiệp này có lúc hay lúc dở, nhưng ảnh hưởng của nhau thì khá phong phú, nên lấy lời của Khổng Tử, bậc thầy của nước Tàu từ thời Xuân Thu làm ý dẫn. Khổng Tử nói ''thiên hạ vi công'' có nghĩa thiên hạ là của chung mọi người. bên ta thì có câu

 

đời muôn sự của chung

Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

 

Chung, nghĩa là công,là thiên hạ.

Hơn nhau chính là sự anh hùng, là việc được thiên hạ.

 

Như vậy, lãnh tụ là người có thiên hạ. Vai lãnh tụ chính là do thiên hạ (quần chúng) đề bạt. Không có thiên hạ thì ''lãnh tụ'' chỉ là lãnh đạo ''trỏng'' (trống không). Xem thế, nếu không có thiên hạ thuận với mình thì chẳng là anh hùng, chẳng là lãnh tụ gì cả. Thế rồi, ở ngôi lãnh tụ mà điều lí sự việc không nghiêm, lãnh đạo không chính, tiên liệu không sáng suốt thì rơi vào cảnh ngộ mê muội, hôn áp, bạo tàn, thời phải truất đi, phải diệt bỏ mới đúng lẽ thăng tiến của nhân văn. để hiểu cho tận lí, thì công thể, quần chúng, thiên hạ chỉ quyết diệt bỏ sự bạo tàn, hôn áp, độc đoán chứ không diệt bỏ lãnh đạo.

 

độc tài là thi hành nghiêm chỉnh luật tắc thăng tiến nhân văn cho nhân quần. Thế nhưng cứ thường bị hiểu sang nghĩa độc đoán, ngoan cố, vị kỉ cực đoan... với toàn ý xấu. Mà đúng thế, các tính đó thì chẳng tốt tí nào, nhưng không thể gắn chúng vào làm nghĩa cho tiếng độc tài được.

 

độc tài là chuyên giữ tài năng, bành trướng tài lực, và phát triển tài chánh thì hay lắm chứ, xấu xa gì mà phải căm ghét, chống đối, hủy diệt. Hình thái điều lí nào cũng cần tuyên thủ độc tài, nếu không thì nát bét. Hình thái điều lí thì tùy thời, tùy lúc, nhưng cứ cố giữ ''tài'' cho nghiêm minh thì mới ổn định dược xã hội.

 

Thí dụ, trong thể chế pháp trị (nội dung của dân chủ), pháp luật là quy ước của tập thể. Nếu quy ước mà không tuyên thủ đc tài, thì pháp luật còn gì là quy ước nghiêm minh nữa, thể tất xã hội nháo loạn bất ổn ngay.

 

Cũng có câu chuyện nhỏ về dân chủ, mang ý nghĩa là ''quyết định'' của tập thể rất quan trọng.

 

Chuyện kể rằng, một thành phố kia sau nhiều đời Thị Trưởng, nhưng nguyện vọng của dân vẫn chẳng được thi hành thỏa đáng. Vi lẽ đó, dân trong thị xã đồng ý chỉ bầu cho người nào vào chức Thị Trưởng với điều kiện người này phải có tài làm mưa làm nắng theo ý dân. Khó như vậy mà cũng có một vị đắc cử, vì vị này đã quyết hứa sẽ làm mưa, làm nắng theo đúng đòi hỏi của tập thể.

Dân trong thị xã có nhiều nhóm, nhiều ngành nghề khác nhau. Tùy ngành nghề và tùy giai tầng sinh hoạt, nên nhu cầu cũng khác nhau, mặc dù chỉ đơn giản mưa, hay nắng. Nên mỗi lần họp bàn để quyết định đòi viên Thị Trưởng phải làm mưa hay nắng, là tranh cãi ỏm tỏi vô cùng gay go. Có nhóm muốn làm mưa để việc nông tang, cầy cấy thuận lợi. Có nhóm lại muốn có nắng để di chuyển làm lụng được khô ráo. Có nhóm muốn mưa ngày nắng đêm để việc làm trong nhà được mát mẻ tiện lợi. Có nhóm muốn nắng ngày mưa đêm để tổ chức đi chơi ngoài trời cho quy mô sảng khoái. Có nhóm chỉ muốn mưa vài phút lúc đêm tàn còn nắng chang chang suốt ngày để việc cắm trại được vui trọn vẹn,... Cứ thế các nhóm tranh cãi ỏm tỏi, lợi ích của nhóm nào cũng trên hết, nên hết ngày này qua ngày khác không đưa đến biểu quyết nào cả. Vì thế trong suốt nhiệm kì, vị Thị Trưởng không có cơ hội để làm mưa hay nắng. Thế là, trời đất cứ mưa nắng theo tự nhiên.

 

ý nghĩa câu chuyện, để tùy quý vị.

 

Như đã nói ở trên, độc tài và dân chủ (cụ thể là ý nguyện của toàn dân, của tập thể căn cứ theo đa số) không những chẳng xung khắc mà còn hỗ tương cho nhau. điều này cần phải được minh chứng.

 

Trươc khi lấy các sự kiện kịch sử để minh chứng điều đó, cũng thử  bàn qua về khái niệm dân chủ.

 

Sách vở cũng đã viết rất nhiều về vấn đề này. Qua sách vở quảng bá và hướng dẫn, khiến quần chúng nghĩ rằng khái niệm dân chủ chỉ mới có từ cuối thế kỉ 18 ở Tây âu và Bắc Mĩ. Còn chớm nở của khái niệm này thì từ Anh Cát Lợi (England) với cách mạng 1679. Rồi ấn tích loé rạng khác của dân chủ là cách mạng 1787 ở Mĩ vào thế kỉ 19, và lừng lẫy là cách mạng 1789 ở Pháp ( cách mạng này đặc biệt lừng lẫy đối với hầu hết trí thức Việt Nam - vì đất Việt đã có lúc bị giặc Pháp xâm chiếm hơn 80 năm,1884-1945). Rồi ngày nay, khái niệm dân chủ đã vô cùng phổ quát, và đã trở nên lí tưởng đấu tranh ở khắp mọi nơi. Thế nhưng sự đời thường là thiên hình vạn trạng, ''dân chủ''cũng vậy. Tiếng gọi là thế, nhưng hành sử lại ''trăm khoanh, nghìn khóe'' khác nhau. Sự khác biệt có thể vì lòng người điều lí khác nhau , có thể vì tình huống dân gian khác biệt ... Mà nói cho cùng, ở lãnh vực nhân văn thì  làm gì có tuyệt đối, hoặc bất biến. Vì sự việc mà tuyệt đối cả, thì mọi sự chết cứng, chứ làm sao mà dịch biến, thăng hoa cho được. Dân chủ ở khắp nơi đều khác biệt. Có nơi tạm tốt, có nơi chưa tốt, nhưng tựu trung đều cố tiến trên đại l dân chủ cả. Tuy vậy, thói thường tự cao tự đại, nên chỉ thấy kiểu dân chủ của mình là nhất. Cũng với tâm lí đó, và sự vượt thắng kĩ thuật của Tây phương, mà mọi người phải nghĩ là dân chủ phát xuất ở phương Tây. Từ thế kỉ 19, Tây phương phát triển mạnh, và bành trướng thế lực khắp nơi trên thế giới, do đó mọi người tuyên dương là thể chế dân chủ khởi phát từ Tây phương. Thế nhưng, trầm ngâm mt chút, rồi lục xem các cổ thư thì nhận định ấy phải xét lại.

 

Chẳng cần xa xôi cho lắm, mới chỉ đọc vài cuốn sách xưa của người láng giềng phương bắc, cũng đã thấy khái niệm dân chủ được đề cao từ lâu lắm.

 

Từ những năm tháng trước Dương Lịch, ở thời Xuân Thu Chiến Quốc của Tàu, các thánh triết của Trung Hoa đã tuyên dương vai trò và quyền hành của người dân lớn lao vô cùng. Lớn tới đ có thể truất bỏ ngôi lãnh đạo. Mạnh Kha đã có lần lớn tiếng cảnh cáo giới lãnh đạo rằng: ''Dân vi qúy, xã tắc thứ chi, quân vi khinh'' (Dân là qui nhất, đất nước thứ yếu, lãnh đạo - vua - là thứ thường). Tuy nhiên những điều này chỉ có trong sách vở mà thôi. Rồi ở nước Việt, ý niệm dân chủ còn tích cực hơn thế nhiều. Ngay từ xa xưa ngôi lãnh tụ được tôn trọng và đề cao tới tột cùng nên được gọi là con trời (thiên tử). Ngôi trời là ngôi điều lí vũ trụ, còn con trời điều lí trái đất này. Thế nhưng trong quan niệm của dân Việt, cái vai vị cực kì lớn lao làm chủ cái địa diện này, ngang vai với cả trời chính là người dân. Chẳng thế mà vẫn được tuyên bố là:

Ý dân là ý trời

Rõ rằng dân ngang với trời. Ý dân phát biểu ra thì quan trọng lắm như lời thần thánh phán vậy.

Nhân nói như thần nói

Lãnh tụ mới chỉ là con trời, chứ dân mới là trời. Ý này đã cực tả được vai vị làm chủ của người dân.

 

Ở nhiều cảnh ngộ, nhiều tình huống của nhiều chế đ (hình thái lãnh đạo xã hội) người dân phải chịu trăm cay nghìn đắng thật là tội nghiệp. Tuy vậy cũng chỉ là đoản kì. Hoàn cảnh đó là những thử thách về ý thức quyền hành của người dân.Nếu người dân ý thức kịp thời và tích cực sử dụng quyền của mình thì mới sớm thay đổi được vận mạng. Trầm luân lâu hay mau, khóc than nhiều hay ít chính là do tình huống đó.

 

Trở lại với ý niệm độc tài của khía cạnh lãnh đạo, thì lãnh đạo mà không độc tài, tập thể tất sẽ bị lâm nguy. Nhưng lãnh đạo biết sáng suốt tích cực độc tài thì tập thể hưng thịnh. Gương xưa còn đầy trong sách vở. Nếu vuaTrần Nhân Tông (1287) không độc tài tuân hành ý nguyện ''Quyết chiến'' của hội nghị Diên Hồng thì biên vực tung hoành của Mông Cổ chẳng chiụ ngừng tại ải bắc của nước ta, để chịu luẩn quẩn trong lãnh địa nước Tàu mà thôi. Nếu đức Lê Lợi (1427) không cương quyết độc tài thực hiện ý chí độc lập của toàn dân, thì giặc Minh nào chịu chui lủi trốn về Tàu. Nếu Hoàng Đế Quang Trung (1789) không độc tài thể hiện ý chí đấu tranh của dân Việt, thì lẽ nào giặc Thanh, quân-tướng không kịp giáp trụ, ngựa chẳng kịp yên cương đã vi đạp lên nhau mà chay về Trung Nguyên [đất của những người (Trung Hoa) sống trên thảo nguyên (cũng gọi là Trung Quốc)]...

 

Nhắc tới những oai phong lẫm liệt đó của tiền nhân, lại chợt nghĩ tới chuyện hậu thế. Có những kẻ mang tính xấu, vốn đã bất tài, nhưng nặng lòng thèm khát tiếng tăm, nên đã dám hạ bút viết càn về những sự kiện, và những nhân vật kiệt liệt trong lịch sử, hay những tác phẩm của những người có tài, khiến người ta phân vân mỗi khi giở những trang sử của đất nước, hoặc đọc những tác phẩm lừng danh của dân tộc. Không hiểu, chúng bôi bác mạ lị tiền nhân thì ích lợi gì cho đất nước, nhưng chắc chắn chúng được tiếng là đồ vô lại bất hiếu. Sự ti tiện vô liêm sỉ ở đời là không biết tự ''đấm ngực'' mình, mà lại đòi ''đấm ngực'' tổ tiên. Thật là bất tường, đúng là trùng kí sinh vô trách nhiệm. Mà cũng thực bực mình, vì vẫn có kẻ vỗ tay cổ võ chúng.

 

Trở lại phần trên,thì tóm tắt như thế này: dân chủ là quyền năng của người dân. Còn dùng tới hay không, hoặc biết dùng hay không biết dùng lại là chuyện tùy thuc vào trí năng, tình huống suy tưởng, và ý thức quyền hành của người dân. ''Nhân quyền, dân quyền'' là đương nhiên của con người, của nhân quần, không phải là quyền được trao bởi lãnh đạo, hay bất cứ năng lực nào cả. Mà đúng ra, nhân quần trao quyền cho lãnh đạo. Phương cách trao quyền thì vô cùng linh động, thiên hình vạn trạng, bằng một thế cách nào đó.

 

Như tiêu đề đã đặt ''Độc Tài Là Yếu Tính Của Lãnh Đạo'', mà cũng đã đề quyết như thế, để lãnh đạo thực thi ý nguyện của tập thể,và hướng dẫn tập thể thăng tiến. Tương quan giữa độc tài và dân chủ là tương quan hỗ tương. Đối thủ của dân chủ là bạo ngược, là lãnh tụ bạo tàn, là ''hôn quân, bạo chúa''. Đó mới thực là mục tiêu mà dân chủ phải tiêu diệt.

 

Tiêu diệt tham tàn, trừ bỏ lãnh đạo bạo ngược là tiến trình thăng hoa của nhân văn, là tiến trình tính người thắng tính thú. Vì sự bạo ngược chính là thú tính. Ở khía cạnh này, vị kỉ là trọng tâm của tác động làm mù tối mọi hình ảnh bình đẳng xung quanh. Bạo tàn là chỉ vì mình, bất kể thiệt hại, buồn thảm, chết chóc của tương quan xung quanh. Đặc tính đó là bản năng thú vật. Hay một cách rõ hơn, bạo ngược chính là thể cách thú vât hiện hữu trong thế giơi loài người.

 

Kẻ cầm quyền, chỉ cốt thỏa mãn cho mình mà tìm mọi mánh khóe dù lưu manh, bất nhân, tàn ác tới đâu cũng dám thực hiện như cung cách một ác thú,thì đấy là bạo quyền. Đó chính là đối tượng người dân phải tiêu diệt, loại trừ. Còn thực thi đường lối thỏa ý nguyện  thăng tiến tốt lành của dân, của tập thể một cách nghiêm chỉnh ngay ngắn thì đáng quí lắm. Có nghĩa là phải độc tài chấp hành ý nguyện của dân chúng. Xét ra, kịch liệt lên án độc tài mà độc tài vẫn đấy là vì cái ý nghĩa của hành đng đả kích không ổn, và đối tượng bị kết án không chuẩn đích. Lẽ ra, đối tượng phải tiêu diệt chính là ác thú cầm quyền bạo tàn, bạo lực. Thế nhưng, thật oái oăm tiếng độc tài vẫn bị các người tranh giành quyền vị, và người đời vẫn cứ nhập nhằng khoác vào nghĩa xấu. Sự việc xẩy ra như vậy bởi vì nhiều lí do, nhưng thử đơn giản vài nét lớn của các nguyên uẩn ấy.

 

Gọi người cầm quyển hay người khác là độc tài vì do tự lòng ganh ghét mà nên. Những việc người cầm quyền hay người khác nghiêm chỉnh cứng rắn thực hiện điều ước chung đều bị coi là đáng ghét và phải bôi xấu. Điều xấu xa dễ gán nhất là độc tài. Bởi chưng, nghĩa của độc tài thật vu vơ, nhưng vốn bị gắn với ấn tượng không tốt.

 

Chỉ vì muốn tranh giành quyền vị, mà lại bất tài, bất lực nhưng lòng vị kỉ thật cao, nên phải tạo cho đối thủ một hình ảnh tồi tệ; Dễ dàng nhất và dễ gây ảnh hưởng đối vời quần chúng, nhất là những người vốn có mặc cảm tự ti nhược tiểu, một ý niệm xấu về người có quyền vị bằng cách gán tiếng độc tài cho họ.

 

Như trên đã đề cập tới, giới lãnh đạo vốn chẳng có người toàn hảo, không những thế, thành phần tệ hại lại quá nhiều.theo lẽ tự nhiên của qui trình thăng hoa, thì quần chúng phải hủy bỏ, diệt trừ những xấu xa đó để kiện toàn xã hội. Nhưng công tác đó không thể hàm hồ vu bôi nhọ tất cả bằng tiếng ''độc tài''. Những tội lớn của lãnh đạo như: bạo ngược, bất nhân, tham nhũng,độc đoán, dâm loạn bỉ ổi, cung cách ''dâm tặc''vua chúa như sách sử đã ghi. Chẳng hạn như ở bên Tàu, mỗi vua, theo kinh điển của các thánh triết Trung Hoa quy lập, có tới 120 vợ. Có thời, nhiều tên ''dâm tặc''(tiếng của nhà bỉnh bút Bá Dương-Đài Loan- gọi bọn loạn dâm này) có tới 3000 vợ. Hay như những tên cầm quyền bạo ngược của nhiều thể chế, ngay ở thời này, trong cả hình thái mới nhất là dân chủ, bọn tệ hại này khi thì lộ liễu, khi thì ngụy trang bằng kiểu ''đơn hôn liên tục''(serial monogami) để thoả mãn dâm dục. Tệ hơn nữa, là ở thời buổi này, có những tập thể ''mê tín dị đoan'' đã lập qui thành ''đạo'' cho lũ đàn ông dâm dục được quyền có 4 vợ, và coi đàn bà chỉ là đối tượng tình dục một cách độc ác. Chúng độc ác vì quá ích kỉ, và bỉ ổi tới mức hủy bỏ các cơ phận cảm khoái của phụ nữ, để họ phải chịu mất khoái cảm  thiên chức. Có những nơi, tàn ngược đã thỏa mãn trên sự khốn cực của người khác. Chống đối đi, lớn tiếng kết án đi nếu đủ dũng khí. Trừng trị đi, hủy diệt đi nếu đủ can đảm. Nhưng không hiểu trí năng của con người đời nay đã tới trình độ đủ can đảm, đủ dũng lực vượt thắng thú tính chưa ? Những thứ khốn kiếp tàn độc đó không phải là độc tài đâu. Những thứ đó là tội phạm của nhân loại, là tính thú vật cản đường thăng tiến của nhân văn.

 

Lại thêm duyên do nữa là ''thị dục huyến ngã''. Vì thèm có tiếng tăm, thèm được đời biết tới, mà mình thì ngu dốt, bất tài, bất lực, nền tìm cách này, cách nọ để phá đám, gây rối cho thỏa lòng đố kị bằng cách chụp mũ độc tài cho đối tượng. Mũ độc tài là cái hình ảnh dễ được mọi người thỏa thuận. Còn nêu lên những tội ác tầy đình như đã kể trên, thì phải có bằng cớ phân minh, thứ này khó kiếm lắm, mà lại chẳng dễ gì có đồng minh,mà còn dễ bị  lũ bạo ngược  đầy đọa, giết chóc. Ở thế giới tự do thì việc loạn ngôn chỉ bị người đời khinh bỉ quay đi, chứ ngày xưa ở vào đời nhà Tần 221-207 của Tàu thì lôi thôi to, vì Thương Ưởng đặt luật ''vu cáo phản toạ'' nghĩa là vu cho ai tội gì thì sẽ bị xử phạt tội đó. Điều luật này cốt răn đe bọn loạn ngôn... Không hiểu đời nay, loạn ngôn có là một quyền trong ''tư do ngôn luận'' không? Chứ dân gian ta cho là đáng khinh lắm, nên đã khuyên rằng:

Không cho nói thì mếu, cho nói thì khóc

Có thể ''nói'' đây, ngụ ý là loạn ngôn, vu khống, mà văn hoá ta coi là tội, phải trừng phạt, nên mới khóc chứ. Lối nói bừa bãi, loạn ngôn của tham quan bạo quyền gây hại cho người đời thì thật là tệ hại thối tha lắm, nên dân ta mới nói

            Miệng quan trôn trẻ

Tới đây, có lẽ cũng tạm đủ để tóm lại rằng, kẻ thù của dân chủ là bọn lãnh đạo bạo ngược, bất nhân, tham tàn, dâm loan, độc đoán, lũ này phải hủy diệt cho bằng tuyệt. Còn độc tài là yếu tính của lãnh đạo để thực thi ý nguyện dân chúng một cách nghiêm chỉnh mà tạo thăng tiến cho nhân quần xã hội. Cho nên, mong rằng người đời nhận diện được ''kẻ thù của nhân văn'' và tránh được nhầm lẫn giữa sự ''nghiêm chỉnh thăng tiến'' với ''kìm kẹp bất nhân''.

 

Thật mong thay.

 

 

MẠC TRẦN

 

 

 

(Phạm Quân Khanh,Ottawa,11/2001)