DI TẢN và VƯỢT BIÊN

 

Ngày 10-3-1975 Việt Cộng pháo kích và tấn công thành phố Ban Mê Thuột. Kinh hoàng, đau thương.

Ngày 14-3-1975 TT Nguyễn văn Thiệu ra lịnh triệt thoái cao nguyên gây kinh ngạc và uất hận trong quân dân vùng II.

Ngày 17-3-1975 địch chiếm Kontum & Pleiku. Hỗn lọan, tang thương.

Ngày 19-3-1975 Quảng Trị lọt vào tay địch. Ngỡ ngàng, hốt hoảng.

Ngày 23-3-1975 Quảng Ngãi bị chiếm. Ðau thương, tang tóc. 

Ngày 26-3-1975 Huế không còn nữa.  Sụp đổ niềm tin.

Ngày 01-4-1975 Tuy Hòa, Nha Trang đổi chủ. Bấn loạn cùng cực.

Ngày 03-4-1975 Ðà Lạt, Cam Ranh bị bỏ ngỏ.  Ðớn đau, tủi hổ.

Ngày 10-4-1975 Xuân Lộc bị tấn công. Gương hy sinh của các anh hùng Mũ Ðỏ và Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Chiến thắng cuối cùng của QLVNCH.

Ngày 16-4-1975 mất Phan Rang

Ngày 19-4-1975 mất Phan Thiết

Ngày 20-4-1975 VC pháo kich Biên Hòa.  Bi thảm, rối loạn.

Ngày 21-4-1975 Hàm Tân, Xuân Lộc thất thủ

Ngày 27-4-1975 VC bắn hỏa tiễn vào Saigon

Ngày 28-4-1975 phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích.  Saigon hỗn loạn, hốt hoảng.

Ngày 30-4-1945 lính và xe tăng VC tràn vào Saigon.  TT Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng.  Tủi nhục và uất hận.

 

Trong vỏn vẹn có hơn 50 ngày chúng ta đã mất miền Nam.  Cả thế giới sửng sốt.  Ngay chính kẻ thù cũng không ngờ là chúng có thể đạt được chiến thắng một cách nhanh chóng như vậy.

 

Cho đến hôm nay, 30 năm đã qua kể từ ngày mất nước không ai có thể phủ nhận được những hậu quả của quyết định sai lầm  ‘triệt thoái cao nguyên’ bỏ dân bỏ đất.  Sự kinh hoàng, sự chết chóc, sự suy sụp niềm tin…. đã được ký giả lão thành Nguyễn Tú, một nhân chứng sống có mặt trong đoàn di tản tả lại như sau:

 

"Cuộc di tản tiếp diễn sáng nay dưới ánh nắng như thiêu đốt vào ngày đầu tuần. Hàng ngàn xe quân đội và thường dân nối đuôi nhau lăn bánh trên xa lộ 14, nhắm về hướng Phú Bổn. Nhiều xe chở quá nặng ph?i đậu lại bên vệ đường. Xe quân đội được lệnh của Thiếu Tướng Tất tiếp tục đi, … và họ đã thi hành đúng lệnh của viên tướng này.

 

Thật thương tâm khi phải mục kích cảnh người dân không có khả năng di tản bằng xe hơi, xe vận tải, hay bất kỳ phương tiện chuyên chở nào có được. Họ thật cơ cực, phải di tản bằng đôi chân, và họ chiếm đa số, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người lớn tuổi, đi tất tả như chạy, không được dù chỉ một giọt nước để làm dịu cơn khát như cháy cổ. …

 

Không ai biết được liệu họ có thể đến được Phú Bổn tối nay hay không. lẽ nhiều người sẽ quỵ ngã và chết trên đoạn đường dài gian khổ này. Trên đường đến Phú Bổn, dọc theo xa lộ 14, làng mạc, thôn xóm và các buôn người Thượng thảy đều hoang vắng. Cảnh tượng hoang tàn dọc theo xa lộ này gây cho tôi một ấn tượng thật khó tả. …

 

Cuộc di tản thật sự bắt đầu lúc 8 giờ tối hôm qua.

 

Xe cộ chất đầy hành lý, đồ đạc, bình hoa, đồ cổ, hàng hóa đủ loại, lăn bánh trên xa lộ 14, hướng về Hậu Bổn, thị xã tỉnh Phú Bổn, 60 dặm về hướng Đông Nam. Đoàn người và xe này gồm hàng ngàn xe nối đuôi nhau, dài hàng mấy cây số. …

 

Có nhiều tiếng nổ lớn, chứng tỏ kho đạn ở Pleiku đang bị hủy. Từng cột khói bốc lên trời theo hình xoắn ốc, báo hiệu các thùng chứa xăng cũng đã bị phá hủy. Mọi thứ đều bị châm lửa đốt. Nhiều khu vực ở Pleiku bị hủy hoại, nhất là nhà cửa của những người đã di tản. …

 

Không một bác sĩ nào, kể cả bác sĩ quân y, còn ở lại thành phố. Nhiều bệnh nhân ở cả bệnh viện lẫn quân y viện đã bị bỏ mặc cho số phận. Những người khốn khổ này dĩ nhiên không biết đối phó ra sao trước tình cảnh này, ngoài việc nằm lại trên giường bệnh, chờ cái chết chầm chậm đến với họ.

 

Tôi cũng thế, ba lô trên lưng, hòa vào đoàn người di tản vào khoảng 10:30 tối chủ nhật. … Tối nay trời Pleiku thật đẹp, với hàng ngàn tinh tú lấp lánh. …

 

Nếu có bạn bên cạnh, tôi sẽ tâm sự: Này bạn, bầu trời đêm nay thật nhiều sao, nỗi buồn trong tôi cũng nhiều như thế đó.

 

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không biết do đâu lại có lệnh bỏ ngỏ Pleiku và Kontum. Không có bất kỳ lời giải thích nào về việc di tản người dân. Không tổ chức nào được lập ra để lo cho lần tản cư đông đảo này. Chẳng lẽ các tướng lãnh quân đội lại được giao việc lập kế hoạch cho một cuộc di tản như thế sao?

 

Không hề có bất kỳ sự hỗ trợ nào cho người dân, nhất là những người phải đi bộ. Tôi đã chứng kiến nhiều cuộc tản cư lớn từ năm 1954. Nhưng cuộc di tản từ Pleiku-Kontum này khiến tôi chán ghét đến độ chút hy vọng mong manh còn lại trong thâm tâm tôi từ năm 1954 cũng biến mất.

 

Theo sát sau những người lánh nạn từ Pleiku và Kontum, người dân Hậu Bổn cũng rời khỏi thành phố nơi mình sinh sống.

 

Người dân tị nạn từ Pleiku và Kontum, sau hai ngày hành trình gian nan, đến được Hậu Bổn theo từng nhóm nhỏ. Phần lớn người di tản vẫn còn xa mãi phía sau, lê bước mỏi mệt trên lộ trình đầy đất bụi, dưới ánh mặt trời thiêu đốt vào ban ngày, và chịu đựng cơn giá lạnh của núi rừng ban đêm.

 

Không thể nào đếm được bao nhiêu trẻ em đã ngã xuống trên đường đi, bao nhiêu cụ già bơ vơ phải đứng lại dọc đường, không còn cất bước đi được nữa, và còn bao nhiêu người khác phải chịu đựng đói khát trên suốt chặng đường tìm đến Tự do và Dân chủ.

 

Một sĩ quan biệt động bảo tôi: "Lần này, tôi không thể nào còn nhìn thẳng vào mặt đồng bào mình lần nữa."

 

Một anh binh nhì nói: "Thật khốn kiếp, chúng ta rút lui không hề kháng cự. Tôi thà chiến đấu, rồi chạy trốn nếu thua và tôi chấp nhận như vậy."

 

Một Đại Úy Không Quân than: "Thật thảm thương, nhất là khi nhìn lại Pleiku, giờ chỉ còn là một thành phố bỏ hoang. Chỉ còn thấy lửa cháy khắp nơi. Tôi buồn quá.

 

"Tôi ngạc nhiên quá. Hãy nhìn những con người này, những trẻ em này. Thật khốn khổ, đáng thương quá!", một người lính khác nói thêm.   

 

Hôm nay, người dân Hậu Bổn đã hòa vào dòng người lánh nạn từ Pleiku và Kontum.

 

Phụ nữ, trẻ em, thanh niên, và người lớn tuổi hối hả rời khỏi nhà theo từng nhóm, đem theo của cải, đồ dùng trên lưng hoặc cầm trong tay, khi thấy đoàn người và xe di tản đến gần. Những cảnh tượng cướp bóc, hôi của và sục sạo lại tái diễn. …

 

Nhiều khu trong thị xã bị đốt cháy. … Phú Bổn đã tự đầu hàng, chứ không phải trước kẻ thù. 

 

Sau Kontum và Pleiku bị bỏ ngỏ hôm chủ nhật, ta mất Hậu Bổn thứ ba sau đó.

 

Phần đầu của đoàn xe và người di tản đã qua được điểm phục kích, nhờ được hỏa lực bắn yểm trợ. Nhưng đoạn sau của đoàn di tản phải rời khỏi đường chính và băng rừng.

Tôi kẹt lại ở đoạn cuối của đoàn xe và đoàn người đi lánh nạn.

 

Nhóm phiến quân người bộ tộc miền núi, được vũ trang bằng vũ khí (Hoa Kỳ) của chúng ta và cả bằng tên lửa B-41 và súng trường AK-47 của Cộng quân, đã bắn vào đoàn người di tản, trong khi trọng pháo của Bắc quân bắn đến từ mọi hướng.

 

Nhiều xe vận tải chở đầy binh lính, trẻ em và người lớn tuổi bị trúng đạn pháo, bùng cháy và nổ tung. Xác người tung vãi khắp nơi. Những người đi bộ thì bị đạn súng máy, gục xuống; máu họ tuôn thành dòng.

 

Tiếng đạn pháo ầm ầm, tiếng nổ răng rắc của vũ khí cá nhân, tiếng kêu la của người sắp chết cùng tiếng khóc của trẻ em, tất cả hòa thành một âm điệu duy nhất…vang lên từ hỏa ngục.

 

Biệt động quân chống trả quyết liệt suốt đêm, để đoạn cuối của đoàn xe và người di tản thoát được vào rừng sâu.

 

Cuối cùng, đoàn 200 người chúng tôi cũng leo qua được đồi Chu Del, cách Cheo Reo (Hậu Bổn) khoảng 6 dặm, cách Sài gòn 210 dặm về hướng bắc.

 

Trực thăng bắt liên lạc được với chúng tôi và bay tới cấp cứu. Cuộc giải cứu thật khó khăn, vì Chu Del là một ngọn đồi vừa dốc vừa hẹp.

 

Sau cùng, cuộc giải cứu bằng trực thăng đêm đó và sáng hôm sau đã cứu nguy được 200 người.

 David Butler -The fall of Saigon

 

Những hình ảnh cảm động nhưng đầy hãi hùng đó cũng thấy trong quyển Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 mà Phạm Huấn viết để “Thành kính tưởng niệm những người đã hy sinh, gục ngã trên đường rút quân Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên, tháng 3 năm 1975” và cũng để “Kính tặng các chiến sĩ anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” . 

 

Anh kể:

“ Liên Tỉnh Lộ 7 Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên con đường máu dài 300 cây số đã là nơi chôn vùi hàng ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội. 

Thật kinh hoàng, khủng khiếp.  Biển người và biển máu. 

Sự chết chóc, đau thương, thống hận mà các chiến sĩ và đồng bào đã khốn khổ trải qua từng giây, từng phút trên quãng đường dài Phú Bổn- Phú Yên có thể suy ra được nếu người đọc có theo dõi những biến chuyển của chiến trường.” 

 

“Thành phố đất đỏ nhỏ bé miền núi Phú Bổn, sau những trận mưa pháo của Bắc quân, buổi trưa và đêm 18-3-1975 đã biến thành ‘một chợ trời… xác chết’.  Khắp nơi nơi, chỗ nào cũng có xác người chồng chất lên nhau. 

Họ đã chết tức tưởi, oan nghiệt.”  

 

Ở một đoạn khác anh viết  ……

 

“ Trái lại, còn làm cho mấy chục ngàn đồng bào và trẻ thơ vô tội, bị chết oan trên ‘con đường của Tử Thần’ này. Gần 20 ngàn quân tinh nhuệ bị thảm sát…”

 

“ Quang cảnh trên Dương Vận Hạm 404 lúc này thật náo nhiệt, ‘xô bồ’.  Hầu hết là anh em thuộc Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.  Quần áo trận màu xanh rằn ri Cọp Biển.  Họ đứng, nằm, ngồi chen chúc mọi nơi, mọi chỗ. Tất cả đều mệt mỏi. 

Không vũ khí, không còn phong độ”

 

Nhưng anh cũng đã ghi lại được sự quả cảm, hào hùng, anh dũng của rất nhiều đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.  Anh viết:

“ Trên 30 cây số đường máu, chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tản thương, ‘hậu phương’ rã ngũ, bỏ sung; các chiến sĩ Sư Ðoàn 22 Bộ Binh đã chiến đấu trong tình trạng tuyệt vọng nhưng dũng cảm, anh hùng.  Trước mặt, sau lưng đều là địch, họ đã bắn đến viên đạn cuối cùng rồi gục xuống.  Có những hành động thật hào hùng, thật phi thường.

Một cấp chỉ huy Trung Ðoàn 47 đã quỳ xuống ôm lấy người lính bị thương rồi bật khóc.  Người lính chỉ còn thoi thóp nhưng ngón tay vẫn để trên cò súng.  Hình ảnh này làm ông đau đớn.  Ông đứng dậy bỏ đi.  Nhưng rồi lại trở lại.  Và thật bình tĩnh, ông rút súng…kết liễu đời đứa em thân yêu, sau đó bắn vào đầu mình!

Có một ‘người Anh lớn’ khác, đợi cho các chiến hữu của mình lên tầu hết rồi lững thững bỏ đi.  Trời bừng sáng, nhưng Anh không đi về hướng mặt trời.  Anh trở lại con đường cũ.  Trở lại phía có ‘những ngọn đồi số 82 và 174 vô danh’.  Nơi đó Anh sẽ gặp ‘Dũng sĩ Mai Hồng Bướm - người Binh Nhất Trung Ðội Trưởng anh hùng của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh - người Binh Nhất Trung Ðội Trưởng…thứ sáu của Trung Ðội đã chỉ huy đơn vị đánh bật kẻ thù khỏi đỉnh Du Tự, Hoài Ân trước khi gục ngã.  Và gặp lại rất nhiều những anh hùng vô danh khác của Sư Ðoàn, những người đã lấy máu mình tô thắm cho màu cờ đơn vị trong những năm sau cùng!!!”

 

“Ðạn hết, lương thực hết.  Không còn cấp chỉ huy, không còn được yểm trợ, không còn máy móc liên lạc để… kêu cứu; những chiến sĩ Trung Ðoàn 53 Bộ Binh đã gục ngã từng người, từng tổ, từng Tiểu Ðội…trong những chiến hào cho đến người cuối cùng!  Những ‘dũng sĩ’  Trung Ðoàn 53 Bộ Binh không còn chiến đấu nữa.  Họ đã ‘tan ra, đã nát ra….từng mảnh vụn’ và lẫn trong đất đỏ của miền cao nguyên hùng    

 

“ 10 phi tuần phản lực A 37 đánh bom CBU và Napalm yểm trợ cho đoàn quân triệt thoái ngày 24-3-1975 sau đó đã được thực hiện đúng như Ðại Tá Thảo, Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Không Quân Phan Rang ‘hứa’ với Tướng Phú.  Những phi công anh hùng đã khắc phục, chế ngự mọi hiểm nguy, mọi trở ngại kỹ thuật, thời tiết và sự an toàn cho chính bản thân mình; để cứu đồng bào và các chiến hữu anh em.  Những phi công cảm tử anh hùng của QLVNCH đã bay xuất trận hôm ấy trong tinh thần của những hiệp sĩ.  Trên vùng trời Phú Yên lúc 17 giờ ngày 24-3-1975, khi những cánh đại bàng xuất hiện ‘họ’ thật sự là những cứu tinh, là những người đã mang theo sự sống cho Ðoàn người, Ðoàn quân phía dưới.

Như hàng trăm ngàn đồng bào và các chiến hữu khác có mặt hôm đó tại ‘Liên Tỉnh Lộ 7’, tôi muốn được bày tỏ sự kính phục đặc biệt và ca ngợi những phi công anh hùng này.”

“Nhìn về phía Khánh Dương, tôi thấy mịt mù, xa tắp.  Tự nhiên tôi nhắm mắt lại.  Tôi theo đạo Công Giáo nhưng đã hơn 10 năm rồi, chưa một lần bước đến nhà thờ.  Và đêm nay tôi đã nguyện cầu.  Tôi cầu xin cho những người anh em tôi qua được một đêm.”

 

“ Ngày mà đất nước rơi vào tay giặc, miền Nam Việt Nam bị xóa bỏ.  Người dân Saigon và khắp nơi đã chứng kiến những cảnh đau thương khi từng nhóm anh em quân nhân Nhẩy Dù, Biệt Ðộng Quân, Lôi Hổ, Cảnh Sát Dã Chiến đã ‘tự sát tập thể’ khi họ dung sung cá nhân bắn vào xe tăng Cộng Sản Bắc Việt, để rồi gục ngã dài theo đường phố, từ trại Hoàng Hoa Thám, Ngã Tư Bẩy Hiền, Phú Lâm, Tân Cảng về tới đại lộ Trần Quốc Toản.  Và của các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến, Thám Kích, Quân Vận, Công Binh Chiến Ðấu, Ðịa Phương Quân……tại Ðà Nẵng, Pleiku, Vũng Tàu, Cần Thơ, Chương Thiện.

Họ là những anh hùng, không đầu hàng giặc.  Họ đã chọn cái chết để bảo vệ danh dự cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.” 

 

  Phạm Huấn - CUỘC TRIỆT THOÁI CAO NGUYÊN 1975

 

Những đoạn trường trên ‘Tử lộ 7’ cũng đã được vẽ lại qua ngòi bút của Phan Nhật Nam, thật đau đớn cho quân dân ta.

 

“ Cuộc di tản lớn quá, mối đau thương dài đặt trên hai trăm cây số đường núi với hai trăm ngàn người dân thường đi từ Kontum, Pleiku…  Trời cao nguyên buổi tàn Xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, nòng pháo, khí cụ, tóc và da mặt người, vạn tròng mắt đỏ rực.  Những tròng mắt mệt mỏi, lo âu, tuyệt vọng.  

Ðoàn di tản qua được ngày đầu bình an.  Bình an sống sót qua đói, khát, nhục nhằn và lo âu.  Lính gục trên mũi sung, đàn bà, con trẻ nằm rũ trên hành lý, thành xe, đất cát.  Ðược sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở trời?  Còn biết kêu vào đâu? Với ai?

Ðoàn di tản bị chận ở phía đông Củng Sơn, bị cắt rời ở quận Phú Túc, bị đuổi đập từ tây quận lỵ Phú Bổn.  Xe tăng cán ngang lên GMC, GMC hất xe đò chở thường dân xuống vực thẳm, cũng hất luôn những chiếc xe Jeep chở các sĩ quan thuộc các đơn vị yểm trợ, chuyên môn của quân đoàn, tiểu khu Pleiku, cán qua những chiếc Dodge 4 của Ðịa Phương Quân chở những người già và trẻ em tan tác.  Chiếc Vespa của một gia đình chạy lông lốc, xiêu vẹo trên sườn đồi, đứa con, người vợ rơi tơi tả, người chồng, người cha rơi cuối cùng với chiếc xe vỡ toang trên mỏm đá.

 

Và súng nổ…. 105, 155 pháo binh, hỏa tiễn TOW, XM72 của phía cộng hòa;  130 ly, 122 ly, B40, B41 của phía cộng sản cùng hòa vào nhau thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ ánh nắng.  Mặt trời bị chìm khuất trong khói xám.  Có xác bà già ngồi dựa bờ đất bên lề đường, người khô quắt không vết thương.  Dấu hiệu sự chết chỉ được nhận biết nơi ổ mắt, mũi miệng…đám kiến rừng bò lúc nhúc quay quắt đánh hơi.  Ba đứa trẻ mắt lạc thần ngồi nhìn đoạn đường hỗn loạn không cảm giác.  Bé trai nhỏ nhất gục đầu trên gối chị ngủ lay lắt.

 

Có tiếng bắn đi của sơn pháo thật gần.  Sư Ðoàn 320 Ðiện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản.  Lính còn rõ phản ứng trú ẩn, chống cự; người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang.  Xác người tung lên theo đất bay bay.

 

Cái chết không đơn giản, mau chóng bởi súng đạn.  Chết còn bị nhận chìm từ từ trong lòng chiến xa khi chiếc xe tăng chúc đầu xuống đầu cầu nổi bắc qua sông Ba.  Chiếc cầu bắc vội mỏng manh, không thể nào chứa nổi sức nặng vạn con người, vạn chiếc xe…Chiếc xe tăng M48 như khối đá ấn mạnh xuống lòng chén nứt vỡ.  Trong lòng xe có tiếng người hét nghẹn, trên pháo tháp có đám người ngoi ngóp, người đạp lên đầu, lưng, vai người để được thở, được sống thêm vài giây ngắn.  Chiếc xe chìm xuống im lặng kéo theo, mang theo, đè xuống rất nhiều thây xác.  Xích sắt điên cuồng đào xoáy giòng sông máu sẫm làm quậy lên, tung tóe những chân tay người kẹp dính đâu dưới lườn xe.

 

Nhưng dù thế nào đi nữa, cuối cùng, đoàn di tản cũng về đến Tuy Hòa ngày 25-3-1975 do Tiểu Ðoàn 58 Biệt Ðộng Quân dẫn đầu.  Hai trăm ngàn dân theo lính chạy loạn từ Kontum, Pleiku nay còn khoảng sáu chục ngàn người!  Không ai có thể tính chính xác được số dân thiệt mạng.  Người chỉ biết và đau với trường hợp từng người thân, của mỗi gia đình, của chính da thịt mình.

                                                                                                     

  Phan Nhật Nam - NHỮNG CHUYỆN CẦN ÐƯỢC KỂ LẠI                   

 

 

“ Ngày 14-4-1975 đồng bào từ Ðà Lạt, Lâm Ðồng, Bình Tuy, Long Khánh… khắp nơi đổ tới Ngã Ba Dầu Giây để tìm đường về Saigon.  Việt Cộng nã pháo vào khắp các vị trí của quân ta từ sáng sớm.  Ðồng bào chiến nạn trở thành nạn nhân sau những trận mưa pháo của địch.  Tiếng kêu khóc thảm thiết. Cảnh chết chóc, hỗn loạn dài hàng cây số trên Quốc lộ 20 và Quốc lộ 1 thật khủng khiếp đau thương.”

 

“ Ngày 14-3-1975, ông Thiệu bay đi Cam Ranh ra lệnh rút bỏ Cao nguyên. 

Ngày 17-3-1975, cuộc rút quân từ Pleiku bắt đầu và hai ngày sau đoàn quân, đoàn xe kẹt lại tại Phú Bổn.  Ðã có biết bao nhiêu đau thương, kinh hoàng xẩy ra và còn đang tiếp tục xảy ra trên Liên Tỉnh Lộ 7, con đường của tử thần nối liền Pleiku – Phú Bổn – Phú Yên.

Ngày 20-3-1975, ông Thiệu lại ra lịnh bỏ Huế. 

Cuộc rút quân từ Huề bắt đầu ngày 23-3-1975 và cũng hai ngày sau đó, đoàn quân, đoàn xe, đoàn người lại kẹt cứng, chết chồng chất lên nhau.  Nhưng ‘điểm hẹn’ của Tử Thần trong cuộc rút quân này là hai cửa biển Thuận An và Tư Hiền.  Từ chiều tối 25-3-1975,  những bãi cát phẳng mịn gần Thuận An và Tư Hiền biến thành ‘ bãi chết’ và những vùng biển kể trên là ‘biển máu’.”

 

“ Trận chiến Xuân Lộc với những thiên ‘ anh hùng ca ’  của những người lính Nhẩy Dù trước khi ‘giã từ vũ khí ‘ và sau đó những ngày cuối cùng trên khắp các mặt trận Quân Ðoàn III và Quân Ðoàn IV, còn có biết bao nhiêu gương anh hùng sáng chói khác nữa.  Những chiếc phản lực cơ chiến đấu A37, F5 bị bắn rớt vào ‘giờ thứ 25’ trên các chjến trường Long Khánh, Biên Hòa, hay chiếc Hỏa Long thả hỏa châu bị bắn đứt cánh sáng 30-4-1975 ngay tại vùng trời Saigon, đủ chứng minh, giải thích về tinh thần chiến đấu phi thường của những người anh hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong mọi Quân Binh chủng.”

 

“ Trận chiến mất nước 52 ngày sau cùng của Việt Nam được khởi đầu bằng hai cuộc rút quân Cao Nguyên và Huế thật hỗn loạn, bi thảm.  Những vị Tướng mặt trận trong ngày cuối cùng 30-4-1975 đã chọn cái chết không để lọt vào tay giặc, sau lệnh đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, là những hy sinh, những quyết định anh hùng, để cho những người lính chiến đấu dưới quyền họ kính phục, hãnh diện.  Ðó là các Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Quân Ðoàn II,  Tướng Nguyễn Khoa Nam Tư Lệnh Quân Ðoàn IV các Tướng Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai và Lê Nguyên Vỹ.

Nhưng nói về những người anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong trận chiến mất nước và suốt 21 năm chiến đấu chống cộng sản của toàn thể Quân Dân miền Nam, chúng ta phải ngả đầu ngưỡng phục và dành ngôi vị anh hùng này cho những người lính, những cán bộ cấp nhỏ trong chính quyền, và những sĩ quan từ cấp Trung Ðoàn Trưỏng, Lữ Ðoàn Trưởng trở xuống.”    

 

   Phạm Huấn - NHỮNG UẤT HẬN TRONG TRẬN CHIẾN MẤT NƯỚC 1975

 

“Khi đoàn xe tăng ‘cách mạng’ vào thành phố, mình thấy có nhiều người lính chế độ cũ chạy vào mấy đường hẻm tự sát.  Có khi một người, có khi hai người, có khi mấy người chụm đầu vào nhau rồi mở chốt lựu đạn.

   Trần Văn Thủy - NẾU ÐI HẾT BIỂN

 

30 năm đã qua kể từ ngày những đồng bào vô tội, những quân nhân đã chiến đấu và đã nằm xuống trong trận chiến cuối cùng.   Chúng ta hãy kính trọng sự hy sinh của họ và nên để cho họ được yên nghỉ.  Trong suốt 21 năm chiến đấu để bảo vệ tự do cho miền Nam đã có biết bao nhiêu gương hy sinh anh hùng của các chiến sĩ các cấp trong tất cả các Quân Binh chủng. 

 

Tôi muốn nhắc đến Binh Nhì Nguyễn Văn Bẩy xạ thủ súng cối 81 ly Trung Ðoàn 53 Bộ Binh,  Binh Nhất Mai Hồng Bướm Trung Ðội Trưởng thứ sáu của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh,  Binh Nhất Lê Hoàng, Hạ Sĩ Sơn E và Binh Nhất Cao Xuân Tùng của Ðại Ðội 14 Trinh Sát, Chuẩn Úy Dương Minh Ðức, Chuẩn Úy Lương Ðức Hậu Trung Ðội Trưởng Trung Ðội 1 Ðại Ðội 2 Tiểu Ðoàn 1 Chiến Ðoàn 52 Sư Ðoàn 18 Bộ Binh,  Hạ sĩ Lê Sen, Binh Nhất Hòa, Trung Sĩ Hoan của Trung Ðội 3 cũng của Chiến Ðoàn này…. 

Tôi cũng muốn kể đến gương hy sinh của Ðại Tá Nguyễn Ðình Bảo người ở lại Charlie, Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 42 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh, Lê Cầu tại mặt trận Bình Ðịnh, Bùi Quyền Lữ Ðoàn 3 Nhẩy Dù, Trung Tá Nguyễn Văn Ðỉnh Lữ Ðoàn 1 Nhẩy Dù, Trung Tá Lê Quang Ðình, Ðại Tá Phạm Văn Phúc hai người đứng đầu tiểu khu Long Khánh, Thiếu Tá Châu Ngọc Sanh Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 1 Trung Ðoàn 14 Sư Ðoàn 9 Bộ Binh, các Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc và Ðỗ Hữu Tùng hai vị chỉ huy của Lữ Ðoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến, Ðại Úy Hiền, Ðại Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Tá Nguyễn Cao Vực của Trung Ðoàn 8 Sư Ðoàn 5 Bộ Binh…. 

Rồi còn những chiến sĩ anh hùng trong những binh chủng khác Trung Úy Phi Công Nguyễn Hoàng Dự và các người bạn của anh, các phi công phản lực A37, F5, các quân y sĩ Ðoàn Mạch Hoạch, Trương Bá Hân, Ðỗ Vinh, Nguyễn Văn Nhứt, Trần Ngọc Minh, Nghiêm Sĩ Tuấn, Tô Phạm Liệu, Trần Thái, Ðoàn Trung Bửu, Nguyễn Ðăng Chương Dương, Vũ Ðức Giang và thật nhiều, nhiều nữa các chiến sĩ, các hạ sĩ quan, sĩ quan anh hùng trong đoàn quân Mũ Ðỏ, Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Thiết Giáp, Pháo Binh, Lôi Hổ, Công Binh, Ðịa Phương Quân…đã hy sinh trong suốt cuộc chiến.

 

Chúng ta hãy thắp một nén hương lòng cho những người đã khuất. Cùng với bao nhiêu chiến sĩ vô danh khác các anh vinh dự đi vào lịch sử, vì đã một đời hy sinh cho Tổ Quốc và lý tưởng Tự Do.

 

 

Sau ngày 30-4-1975, công tác đầu tiên mà Cộng Sản đã cố gắng thực hiện là phá vỡ hệ thống hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa cũng như tiêu diệt các giai cấp cũ trong xã hội miền Nam. Song song là việc cải biến miền Nam Tự Do thành Xã Hội Chủ Nghĩa qua hình thức cải cách kinh tế, cải cách văn hóa và hủy bỏ những quyền tự do căn bản của con người. 

 

Cải cách kinh tế đã được thực hiện qua hình thức phủ nhận quyền tư hữu để tiến tới tập thể hóa, tấn công giới tư sản, cải tổ, phá giá tiền tệ.  Cải cách văn hóa bằng cách phủ nhận mọi giá trị tự do, nhân bản và dân tộc của nền văn hóa cũ như đốt sách kể cả sách giáo khoa, bãi bỏ chiếc áo dài truyền thống của phụ nữ Việt Nam, phá hủy các nghĩa trang cũng như các ngôi mộ của những người đã khuất, thiết lập hệ thống giáo dục mới để đào tạo con người xã hội chủ nghĩa.  Bên cạnh đó là việc hủy bỏ nhân quyền và dân quyền như tự do báo chí, lập hội, thiết lập sổ hộ khẩu, an ninh phường xã, công an khu vực để kiểm soát từng người dân cùng gia đình của họ.  Ðối với tôn giáo, tài sản của giáo hội bị tịch thu, cơ sở của nhà thờ, chùa chiền được xử dụng cho mục đích khác, thêm vào đó là việc thành lập những giáo hội quốc doanh cũng như qui định lại việc huấn luyện các tu sĩ.

 

Ðể phá vỡ hệ thống hành chánh của miền Nam, Cộng Sản loại bỏ ngay các cơ quan: quân đội, cảnh sát, tòa án và hệ thống cải huấn với tất cả các viên chức của các cơ quan ấy.  Cộng Sản đã áp dụng nhiều phương pháp để tiêu diệt cá giai cấp cũ như hạ sát tập thể, tòa án nhân dân, trại tập trung mà với mỹ từ ‘trại cải tạo’ chúng đã l