Đêm Lạnh Trùng
Dương
Truyện ngắn Đào Văn
Bình
Trời phú cho Hoàng Nhung một vẻ đẹp quyến rũ nhưng lại có nét thoáng buồn. Chính vì sự phối hợp kỳ lạ này mà Hòang Nhung bề ngòai mang dáng vẻ một con người lạnh lùng khó khuất phục giống như hoa hồng đẹp ai cũng muốn hái nhưng lại sợ gai đâm. Do đó hầu hết những người quen biết nàng, yêu nàng đều ngần ngại bộc lộ tình cảm của họ.
Năm 1968 nàng là cô nữ sinh viên năm thứ ba Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Như thế là chỉ còn một năm nữa nàng sẽ lấy nốt một số chứng chỉ còn lại, sau khi tốt nghiệp xong, nàng có thể nạp đơn xin làm giáo sư Anh Văn. Năm đó nàng mới hai mươi ba tuổi. Ai cũng nghĩ cả chuỗi ngày còn lại của nàng sẽ thật êm đềm, phẳng lặng bởi vì cuộc đời của một cô giáo thì làm gì có nhiều sóng gió. Thế nhưng cũng năm đó, do luật lệ mới, ông cụ thân sinh phải về hưu. Ông cụ là nguồn cung cấp chính cho gia đình. Còn bà cụ thì suốt đời lo việc nội trợ, phục vụ chồng con cho nên gia đình lâm vào cảnh túng thiếu. Không nỡ nhìn cảnh đó, Hòang Nhung quyết định xin làm thông dịch viên cho cơ quan USAID với số lương ngang với số lương của ông trung tá lúc bấy giờ, nhưng cũng hy vọng dù có phải kéo dài thêm năm nữa thì cũng lấy xong bằng cử nhân thôi. Thế nhưng không ngờ sáu tháng sau nàng có lệnh thuyên chuyển ra ngòai Vũng Tàu.
Kể từ năm 1965 là năm quân Mỹ ào ạt
đổ vào Miền Nam, Vũng Tàu trở nên một hải cảng tiếp vận quan trọng. Cơ quan
USAID đóng tại một khách sạn lớn mà vị giám đốc tên là Jimmy mới có hai mươi bảy
tuổi, đẹp trai, độc thân. Chàng là con của vị Đại Sứ Hoa Kỳ tại
- Thế ước mơ của Hòang Nhung là gì?
Hoàng Nhung đáp:
-Ước mơ của Nhung là đất nước hết chiến tranh, Nhung sẽ là cô giáo dạy Anh Văn và sẽ lấy một người chồng tương đối có học thức, không cần địa vị cao và cùng biết xây đắp hạnh phúc chung.
Jimmy dí dỏm hỏi:
-Thế anh chàng diễm phúc đó có cần đẹp trai không?
Hòang Nhung đáp:
-Dĩ nhiên phải có khuôn mặt dễ ưa rồi.
Jimmy hỏi tiếp:
-Thế anh chàng đó có cần nói tiếng Anh giỏi không?
Hoàng Nhung cười khúc khích đáp:
-Không cần nói tiếng Anh giỏi, nhưng nếu biết tiếng Anh thì Hoàng Nhung sẽ cho thêm điểm.
Trả lời xong, Hòang Nhung hỏi lại:
-Thế còn ước mơ của Jimmy?
-Ồ, Jimmy muốn có một người vợ Á Đông vì Jimmy thích văn hóa Á
Đông. Đó có thể là cô gái Tàu, Thái Lan hoặc Việt
Rồi như thể được khơi đúng mạch, Jimmy nồng nàn nói:
-Jimmy sau này sẽ kế tục cha theo ngành ngọai giao. Làm đám
cưới xong Jimmy sẽ đem cô đó
về
Nghe vậy Hoàng Nhung lại khúc khích cười, nói:
-Jimmy là học trò giỏi lắm nhé. Mới nghe người ta kể chuyện Phạm Lãi-Tây Thi có một lần mà đã nhập tâm rồi đấy. Nè, nghe nói người Mỹ thực tế lắm, sao Jimmy lãng mạn qúa vậy?
Sau một vài giây suy nghĩ, Jimmy đáp:
-Người Mỹ nào cũng cần thực tế để sống còn và vươn lên, nhưng không phải họ không có đầu óc lãng mạn. Muốn lãng mạn thì phải thực tế trước. Bây giờ Jimmy đã có căn bản rồi thì cũng phải cho phép Jimmy lãng mạn chứ?
Ba năm sau, trong một dịp nghỉ Hè, ba mẹ của Jimmy xin được phép từ
Vào năm 1973 khi Hội Nghị Paris mở ra, và cũng do chính sách “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”, cơ quan USAID Vũng Tàu bị giải tán và Jimmy có lệnh trở về Mỹ. Đó là tin sét đánh cho cả hai người. Nhưng đó là định mệnh cho nên biết làm thế nào bây giờ? Trước khi về Mỹ, Jimmy đã chuẩn bị cho Hoàng Nhung thật chu đáo. Jimmy mua cho Hoàng Nhung một căn nhà. Rồi do ảnh hưởng cũng như quyền hạn của mình, Jimmy để lại cho Hòang Nhung một vài chiếc xe hơi, bán đi, cộng với số tiền trợ cấp thất nghiệp, Hoàng Nhung đã gom được một số tiền lớn. Ngày cuối cùng trước khi rời Việt Nam, Jimmy đưa Hòang Nhung đi ăn, lái ca-nô một vòng bờ biển Vũng Tàu để giã từ những ghềnh đá mà hai người đã có lần ghé thăm và có chỗ Jimmy đã khắc tên chàng và Hòang Nhung lên đó. Rồi chiều hôm đó hai người đi bộ dọc theo Bãi Dứa. Jimmy đã ôm sát lấy vai Hoàng Nhung rồi xúc động nói:
-Như thế
là ngày mai anh đã vĩnh viễn xa em. Không biết rồi đây cuộc đời của em ra sao?
Anh không nghĩ là Miền
Hòang Nhung không nói gì mà chỉ khóc vùi. Rồi hai người cứ ngồi yên, sát vào nhau như thế cho đến khi biển Vũng Tàu chợt ngả về chiều, chợt tím thẫm rồi chợt tối. Rồi trùng dương kia bắt đầu trở lạnh. Sao khuya và những ánh đèn của những con tàu bỏ neo ngòai xa lấp lánh như những giọt lệ long lanh của đôi tình nhân trong buổi chia ly đẫm lệ.
* *
*
Sau khi Jimmy lên đường về Mỹ, với số tiền gom góp được nàng đã mở một nhà hàng khá sang trọng và đặt tên cho nó là Quán Hoàng Hoa. Với công việc như thế chắc chắn đời sống của nàng phải hết sức bận rộn. Rập rìu tài tử giai nhân đến tiếp xúc với nàng, mai mối cũng có nhưng nàng vẫn chưa chọn được ai và vẫn sống độc thân cho tới Tháng 3, 1975.
Đây là thời điềm Ban Mê Thuột thất thủ, Cao Nguyên di tản và sau đó là cuộc rút bỏ Cam Ranh, Đà Nẵng …và Vũng Tàu trở thành địa điểm tiếp thu cả một đạo quân tháo chạy về từ Miền Trung. Trong những ngày đầu lính, sĩ quan đủ các sắc phục đổ về còn ít, Quán Hòang Hoa tràn ngập người và đồ ăn làm không kịp để bán cho khách mà hầu hết là quân nhân. Nhưng sau đó từng tàu tiếp nối từng tàu đổ tới, Vũng Tàu không còn sức chứa rồi biến thành một thành phố hỗn lọan, nhà hàng phải đóng cửa và thành phố cũng phải giới nghiêm vào lúc sáu giờ chiều để duy trì an ninh trật tự. Trong số thực khách, có một người mà khi nhận ra, Hoàng Nhung không nén được xúc động và bao kỷ niệm cũ hiện về…
Năm 1966 là năm Hoàng Nhung mới đậu Tú Tài
xong và chập chững bước vào ngưỡng cửa đại học. Giống như các nữ sinh viên năm
thứ nhất khác, Hòang Nhung vẫn còn rụt rè, e lệ. Trong lớp văn chương Anh, hầu
hết nam sinh viên đều là dân sự. Nhưng có một chàng, mới đầu Hoàng Nhung nghĩ
cũng là dân chính, nhưng có lần chàng ta mặc nguyên bộ đồ nhà binh cho nên mới
vỡ lẽ ra chàng ta là một trung úy tên Lê Hoàng Hoa. Vì bận rộn công vụ cho nên
thỉnh thỏang Hòang Hoa vắng mặt và mỗi lần đi học lại đều tíu tít hỏi thăm Hoàng
Nhung về bài vở. Thấy chàng là một quân nhân hiếu học Hoàng Nhung vui vẻ giúp đỡ
và từ đó hai người quen nhau. Năm đó Hoa hai mươi bốn tuổi, điển trai, ăn nói
lịch sự. Mới đầu sự tiếp xúc thường xuyên cũng làm Hoàng Nhung e ngại, sợ các
bạn cùng lớp xầm xì. Nhưng rồi thời gian sáu tháng qua đi, mọi việc cũng trở nên
bình thường trước mắt mọi người. Hoa cho biết trong tương lai người Mỹ sẽ can
thiệp sâu vào Việt Nam cho nên Bộ Tổng Tham Mưu đã tuyển một số sĩ quan theo học
Trường Sinh Ngữ Quân Đội để sau này thành các sĩ quan liên lạc đồng minh. Lợi
dụng cơ hội được về Sài Gòn, chàng xin phép đơn vị trưởng mỗi tuần vài giờ để
lấy nốt văn bằng Cử Nhân Văn Khoa mà khi nhập ngũ chàng đã có một số chứng chỉ.
Biết Hòang Nhung thích kẹo chocolate, mỗi lần hỏi thăm bài vở, Hoa thường “hối
lộ” nàng một hộp kẹp Hòa Lan thật ngon. Những lần giáo sư vắng mặt, hai người rủ
nhau vào thư viện làm bài hoặc cũng có khi Hoa mời Hoàng Nhung đi ăn kem ở Lê
Lợi. Có một lần sau khi tan học, trời mưa rất lớn, chiếc xe Honda của Hoàng
Nhung bị chết máy. Trong khi Hoàng Nhung lúng túng không biết làm sao thì Hoa đề
nghị giúp nàng bằng cách Hoa và chú tài xế khiêng chiếc xe Honda cột ở phía sau
xe Jeep rồi Hoa đích thân lái đưa nàng về nhà. Chiều mưa hôm đó thật hú vía. Lần
đầu tiên ngồi chung xe với một thanh niên, Hoàng Nhung cảm thấy thế nào ấy…vừa e
thẹn vừa lo sợ nhưng cũng có một cái gì nôn nao, kích thích ở bên trong. Sau cái
vụ đi xe chung này thì hai người trở nên thân mật hơn nhưng Hoa cũng không bao
giờ thổ lộ tình cảm của chàng cho Hoàng Nhung biết. Cho đến một ngày Hoa liên
tục vắng mặt rồi chàng trai đó chẳng bao giờ quay trở lại sân trường Đại Học Văn
Khoa nữa. Việc bỏ đi của Hoa làm Hòang Nhung vương vấn một thời gian dài. Khung
trời Đại Học Văn Khoa từ đó đối với nàng trở nên quá trống trải và Hoàng Nhung
nghĩ rằng mình không bao giờ có dịp gặp lại Hoa nữa. Nào ngờ ngày hôm nay nàng
gặp lại Hoa. Nhưng người mà Hoàng Nhung gặp lại không còn là một trung úy nữa mà
là trung tá trung đòan trưởng của một trung đòan đã tan hàng ở Miền Trung. Theo
lời Hoa thì hiện nay chàng chưa biết phải trình diện đơn vị nào.Vả lại các căn
cứ quân sự Vũng Tàu đều không còn sức chứa cho nên chàng xin Hoàng Nhung tìm cho
chàng một nơi tạm trú vài ngày để xem tình hình như thế nào và lệnh lạc như thế
nào. Chiều hôm đó, đóng cửa nhà hàng xong, Hoàng Nhung lái xe đưa chàng về nhà. Sau khi tắm rửa, cạo râu,
thay bộ đồ Pyjama, Hoa trông tỉnh táo trở lại nhưng nét mặt phong sương vẫn cò đầy nỗi ưu tư, lo lắng. Hoàng
Nhung pha cho Hoa một ly cà-phê sữa rồi lấy ở trong ví ra một bao thuốc lá
-Trời ơi! Hoàng Nhung còn nhớ “gu” thuốc lá Pall Mal của anh sao?
Hoàng Nhung hơi chút e thẹn cười đáp:
-Nhung quên làm sao được. Những lần đi ăn kem chung, anh đều
mở bao thuốc
Hoa trong lòng vui sướng khi được biết năm xưa Hòang Nhung đã có cảm tình đặc biệt với mình nhưng cũng vừa nuối tiếc vì những ngày đó không còn nữa. Chàng lên tiếng hỏi Hoàng Nhung nhưng cũng như để tra vấn cả chính mình:
-Tại sao lúc đó chúng mình cái gì cũng sợ cả Hoàng Nhung nhỉ?
Sau phút tư lự Hoàng Nhung nói:
-Phải, tuổi trẻ lúc tình còn trong trắng người ta lo sợ đủ thứ cả. Khi người ta bạo dạn và không còn chút lo sợ thì tình không còn đẹp nữa đâu anh. Anh thử nghĩ xem một người con gái ở tuổi hai mươi và trong nề nếp của xã hội Đông Phương như thế làm sao dám thổ lộ trước tâm tình của mình cho người con trai biết?
Khẽ buông tiếng thở dài, Hoa lấy muỗng quậy ly cà-phê sữa rồi châm điếu thuốc. Khi cà-phê đã thấm giọng và điếu thuốc mà chàng thèm đến chết sau gần bốn ngày căng thẳng vật lộn với bao hiểm nguy trong cuộc di tản bằng tàu Hải Quân, đã làm đầu óc chàng tỉnh táo trở lại. Chàng chậm rãi kể cho Hoàng Nhung cuộc đời mình từ khi chàng rời sân trường Đại Học Văn Khoa. Chàng nói:
-Năm đó anh vẫn còn độc thân. Mới đầu anh nghĩ dù là một quân nhân nhưng vẫn cần kiến thức đại học để sau này khi hết chiến tranh mới có thể giúp ích cho đất nước. Nhưng Hoàng Nhung cũng thấy đó, chiến tranh mỗi lúc mỗi lan rộng, đời sống người dân thật điêu linh, bạn bè từng đứa gục ngã trên chiến trường. Anh thấy mình không thể ngồi yên để lấy nốt văn bằng cử nhân. Rồi một ý nghĩ khác cũng chợt đến. Giả thử chúng ta thua cuộc chiến này thì với kiến thức đại học kia, liệu có giúp ích gì cho bản thân hoặc cho đất nước không? Thế là anh quyết định xin với cấp trên, tình nguyện ra vùng hỏa tuyến. Khởi đầu với chức vụ đại đội trưởng, sau chín năm tác chiến, cũng do may mắn còn sống sót, anh đã leo lên tới chức vụ trung đòan trưởng của một trung đòan. Dĩ nhiên với cuộc sống hiểm nguy nay sống mai chết như thế anh cũng cần có một chỗ để an ủi tinh thần và anh đã làm đám cưới với một cô gái Miền Trung lúc còn mang cấp bậc thiếu tá. Hai đứa sống với nhau đã được ba năm và sinh được một đứa con gái.
Tới đây thì Hoàng Nhung ngắt lời Hoa:
-Thế chị ấy với cháu bây giờ ở đâu?
Khẽ nhắm mắt lại để hồi ức, Hoa đau đớn nói:
-Hai mẹ con di tản chung với gia đình binh sĩ, không rõ bây giờ phiêu bạt nơi nào và sống chết ra sao.
Sau phút giây yên lặng, Hoàng Nhung lên tiếng:
-Năm đó anh nghĩ gì về Hoàng Nhung mà tại sao anh không ngỏ ý gì cả?
Nhìn vào đôi mắt của Hoàng Nhung, đôi mắt vẫn đẹp như xưa, Hoa nói:
-Tuổi trẻ thường có những liều lĩnh nhưng tuổi trẻ lại có những ngây thơ và mâu thuẫn. Nếu như Hoàng Nhung xấu bớt đi một chút tí thì anh đã có can đảm ngỏ ý rồi. Chính vẻ đẹp của Nhung làm anh đắn đo chùn bước. Anh cứ sợ nếu Hoàng Nhung trả lời một tiếng “Không” thì giấc mơ của anh tan vỡ. Thà cứ nuôi một ảo ảnh như thế để được còn sống trong một giấc mơ đẹp. Hơn thế nữa thời buổi bấy giờ lương của một ông trung úy không nuôi nổi bản thân huống chi là vợ con. Từ lúc mới lớn anh đã chứng kiến bao cảnh vợ con nheo nhóc ngòai đời. Phải chăng nghèo mà lấy nhau là làm khổ nhau, Nhung có thấy như vậy không?
Nghe nói vậy Hoàng Nhung hiểu được tấm lòng của Hoa, điều đó giải tỏa được bao nhiêu thắc mắc đã đeo đuổi nàng chín năm trời qua. Giờ đây tất cả đã vào dĩ vãng nhưng nàng vẫn cứ hỏi như thể hờn trách:
-Nếu vậy những cuộc tình nghèo đều không có hạnh phúc? Anh không nghĩ rằng người ta có thể hy sinh lẫn cho nhau sao?
Khẽ nhấp ngụm cà-phê, Hoa cười nói:
-Theo anh thấy các cuộc tình nghèo chỉ đẹp trong thi ca, phim ảnh và tiểu thuyết. Anh không bao giờ muốn nhìn thấy Hoàng Nhung phải sống một cuộc đời bôn ba, vất vả. Đấy là tấm lòng của anh đối với Hoàng Nhung.
Tới đây thì Hoàng Nhung không giấu được nữa, nàng bộc lộ tình cảm sâu kín của mình:
-Thế anh không biết rằng chỉ vì anh không muốn người đó vất vả mà anh đã làm khổ người đó suốt đời sao?
Nói xong Hoàng Nhung bật khóc tấm tức. Thấy Hòang Nhung khóc, Hoa cũng chỉ ngồi ngây ra như tượng đá mà không biết phải phản ứng thế nào. Giây lát sau, như thể đã trấn áp được cơn xúc động, Hoàng Nhung hỏi:
-Bây giờ anh tính sao?
Hoa ngao ngán đáp:
-Trước tình thế này anh không biết tính sao nữa. Anh nghĩ
rằng Miền
Tới đây giọng Hoa hơi nghẹn lại nhưng sau đó đã trấn tĩnh lại được, chàng ái ngại hỏi Hoàng Nhung:
-Còn em, em tính thế nào? Có định di chuyển về Sài Gòn cho an tòan không? Nhìn em thân gái một mình giữa thời buổi lọan ly như thế này anh thật không yên tâm tí nào.
Sau một vài giây suy nghĩ Hoàng Nhung đáp:
-Em nghĩ chạy đâu rồi cũng thế. Sống ở Sài Gòn nhiều năm em sợ bầu không khí ngột ngạt của các buổi giới nghiêm. Em đã mua sẵn một bao gạo, mì gói và một ít đồ hộp, cá khô để dự trữ sẵn trong nhà, ít ra cũng có thể chịu đựng được cả sáu tháng. Nếu tình hình tệ hơn nữa thì cũng đành phó thác cho số mệnh.
Sau khi Hoàng Nhung nói hết câu này thì Hoa cũng không hỏi gì thêm và sự yên lặng tràn đến. Rồi sự yên lặng bị phá tan bởi tiếng đại bác đặt ở sân bay bắn đi để yểm trợ cho mặt trận Bà Rịa – Long Khánh vọng về, làm rung rinh cả những tấm cửa kính. Lúc này hai người ngồi hòan toàn bất động, chỉ có làn khói thuốc bay lững lờ trong căn phòng. Ý nghĩ của Hoàng Hoa như thế nào thì không biết, nhưng riêng Hoàng Nhung, dù với tình hình nguy ngập của đất nước, sự rối lọan của thành phố với bao hiểm nguy có thể bất thần đổ tới, và dù với tâm trạng rối bời…sự hiện diện của ly cà-phê, khói thuốc và bóng dáng của người đàn ông, đã làm cho căn phòng ấm lại, điều mà bao năm qua nàng vẫn ước mơ, thèm khát.
* *
*
Ngày hôm sau, loa phóng thanh của lực lượng an ninh tăng cường từ Sài Gòn và Quân Trấn Vũng Tàu loan báo: Để bảo đảm an ninh cho thị xã, để tránh đặc công VC trà trộn, tất cả quân nhân di tản vào từ Miền Trung phải di chuyển ra Phú Quốc để chịu sự thanh lọc và tái phối trí. Theo đám tàn quân hỗn độn đó, Hoa xuống tàu ra Phú Quốc và kể từ đó Hoàng Nhung không gặp lại cũng như không nghe nói gì về Hoa nữa.
Sau khi đoàn quân di tản vào từ Mìền Trung đã rút đi, Vũng Tàu tạm yên
được vài ngày rồi mặt trận Long Khánh tan vỡ, thành phố lại tái diễn cảnh hỗn
loạn như trước. Nhưng lúc này thì tình thế hòan toàn vô phương cứu chữa cho đến
ngày 30-4 Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng và cộng sản Bắc Việt chiếm tòan bộ
Miền
Sở dĩ Hoàng Nhung quyết định không xuống tàu để chạy ra Biển Đông vì cha mẹ già vẫn còn ở Sài Gòn, nhà cửa vẫn còn đó. Ngòai ra chính mắt nàng cũng đã từng chứng kiến cảnh di tản hãi hùng khi người ta giết nhau để giành sự sống: Lính ở trên bờ bắn vào đoàn tàu khi tàu vừa mới rời bến vì họ nghĩ rằng bị bỏ rơi. Rồi những chiếc ghe nhỏ bị đẩy ra hoặc bắn chìm vì tàu lớn đã đầy nhung nhúc những người. Rồi cảnh chồng vừa leo được lên tàu thì vợ rớt lại. Con chưa kịp trao tay mẹ thì đã rơi tòm xuống biển. Rồi cảnh cộng quân pháo kích dọc theo bờ biển Vũng Tàu để ngăn chặn dòng người đang liều chết tiến ra Biển Đông khiến bãi biển, bến tàu trở thành vùng tử địa.
Ngày đầu khi cộng quân tiến vào Vũng Tàu thì Hoàng Nhung khóc vùi. Khóc để thương cho đất nước và xót xa khi nghĩ tới phận mình. Trưa hôm đó thân thể, đầu óc nàng đau như rần, rồi tối hôm đó nàng phải uống vài viên thuốc an thần để được thiếp đi vào một giấc ngủ nặng nề. Mãi tới chiều ngày hôm sau nàng mới chập chờn tỉnh dậy, vội vã lục hết các giấy tờ có liên quan đến cơ quan USAID đem ra đốt hết. Rồi sáng hôm sau nàng hối hả tạm mở cửa nhà hàng để tránh cái cảnh “Đội quân 30- 4” đeo băng đỏ, hướng dẫn công an, bộ đội tới tịch thu các nhà, các cửa hiệu đang còn đóng cửa với cái tội “Bỏ chạy theo Đế Quốc Mỹ”. Rồi giữa trạng thái hoang mang, lo sợ, chán chường tột độ, Hoàng Nhung chợt thấy rằng đây không phải là lúc ngồi than khóc nữa mà phải chuẩn bị đối đầu với cuộc sống mới, với chế độ mới, với những con người mới đầy xa lạ và cũng thật đáng sợ. Để xem tình hình diễn ra như thế nào và cũng để sống cầm chừng, nàng cho một số nhân công nghỉ việc, chỉ còn giữ lại những người cần thiết và chính nàng bây giờ cũng phải vừa làm chủ vừa làm công việc bồi bàn, tính tiền. Rồi cả cái hình hài của nàng cũng chẳng còn giống như xưa nữa. Nàng nhờ chị bếp ra ngòai chợ Vũng Tàu mua cho nàng một bộ đồ bà ba nâu mặc vào cho xấu bớt đi, để hòa mình với khung cảnh mới đầy dép râu, mũ tai bèo, nón cối, áo bà ba đen, xe đạp và radio transistor hát inh ỏi trên đường phố.
Mặc dầu có loa kêu gọi của Ủy Ban Quân Quản yêu cầu người dân sớm trở lại cuộc sống bình thường nhưng phố xá phần lớn vẫn đóng cửa im ỉm. Người dân của thị xã chỉ ra ngòai trong trường hợp thật cần thiết rồi mau chóng trở lại tụ họp ở nhà, trong hồi hộp, lo âu. Trong những ngày đầu Quán Hoàng Hoa thật vắng người vì giữa buổi giao thời như thế này ai còn bụng dạ nào để ăn nhậu, đãi đằng. Nhưng rồi nhà hàng của nàng mỗi lúc mỗi đông khách mà phần lớn là công an và bộ đội. Hoàng Nhung ngạc nhiên là tại sao họ lại có nhiều tiền như vậy và tòan là tiền mới. Có thể đó là tiền phát trước lúc còn ở bưng biền. Song cũng có thể đó là tiền lấy được từ những xác chết nằm vương vãi trên Tỉnh Lộ 7, trên các phi trường, bến bãi là nơi người ta quăng bừa các va-li, túi xách để chạy thóat thân. Đặc điểm của các cán binh cộng sản là gầy ốm, xanh xao, má hóp, răng hơi hô, ăn uống dữ tợn như người bị bỏ đói lâu ngày. Họ không mang phù hiệu đơn vị, bảng tên cũng như cấp bậc cho nên không biết họ là ai. Trong số thực khách có một người mà Hoàng Nhung phải chú ý vì ông ta ở lại rất lâu sau bữa cơm chiều. Ông ta khỏang ngoài bốn mươi tuổi, có đôi môi mỏng lúc nào cũng bĩu ra như thể đang căm ghét hay bất mãn chuyện gì. Tóc húi cao, mắt đanh ác, răng hơi vẩu làm cho ông ta mang dáng vẻ của một người đầy thủ đoạn và đáng sợ. Sở dĩ Hoàng Nhung đóan ông ta là tay tổ của nghành công an vì ông ta đội nón cối nhưng lại mặc áo sơ-mi trắng, tay có đeo đồng hồ. Ông ta đi xe Molotova lúc nào cũng có hai vệ sĩ đi kèm.
Bây giờ mới khỏang sáu giờ chiều, Hoàng Nhung đang loay hoay ở quầy để kiểm điểm lại tiền nong thì ông ta bước tới, lên tiếng:
-Chào cô.
Hòang Nhung ngửng đầu lên. Khi nhận ra ông ta, nàng vội vã đáp:
-Không dám, chào ông.
-Ấy chết, tại sao lại gọi tôi bằng ông? Tiếng “Ông” nghe có vẻ Thực Dân Phong Kiến lắm. Bây giờ “giải phóng “rồi, mọi người đều bình đẳng, cứ gọi tôi là Anh Tư…Anh Tư Sang là được rồi.
Hoàng Nhung hơi ngạc nhiên về lý luận của ông ta. Nàng lên tiếng như để giải thích:
-Chữ “Ông” đâu có gì Thực Dân Phong Kiến. Nó chỉ là tiếng nói thông thường và lịch sự để xưng hô với một người đàn ông thôi.
Nghe nói vậy ông ta nghiêm nét mặt nói:
-Đấy! Người dân sống trong “Vùng Bị Tạm Chiếm” lâu ngày tư tưởng lệch lạc lúc nào không hay. Đã nói bây giờ người dân được làm chủ tập thể rồi …làm gì còn “ông” với “con”nữa!
Hòang Nhung mở tròn đôi mắt trước vẻ nghiêm nghị một cách tức cười của ông ta. Nhưng tự nhiên nàng linh cảm thấy nếu còn giải thích lằng nhằng thêm nữa chỉ làm phật ý “cách mạng” và rắc rối to, cho nên nàng cố im lặng, tiếp tục thu xếp lại tiền bạc. Trong lúc Hoàng Nhung lo đếm tiền, ông ta vói tay lấy tập hóa đơn tính tiền, lật tới lật lui rồi đưa mắt ngắm nghía Hoàng Nhung từ đầu đến chân, rồi gật gù hỏi:
-Thế cô quản lý nhà hàng này bao lâu rồi?
Hòang Nhung có vẻ bỡ ngỡ trước danh từ “quản lý” của ông ta nhưng cũng ngửng đầu lên đáp:
-Tôi mở nhà hàng này đã hai năm rồi.
Tư Sang lại hỏi tiếp:
-Thế cô có biết gì về chính sách cải tạo công thương nghiệp của Cách Mạng đối với “Vùng Mới Giải Phóng” không?
Hoàng Nhung thành thực đáp:
-Không.
Mặt vênh vênh nhìn hếch lên trời, mỗi bĩu ra, ông ta nói như một nhà thuyết giáo:
-Cửa hàng này là điển hình của lối làm ăn cá thể, manh múm. Muốn xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa thì phải theo phương thức “làm ăn lớn xã hội chủ nghĩa”. Rồi đây tất cả sẽ phải vào hợp tác xã hết.
Nghe tới ba chữ “hợp tác xã” thì Hoàng Nhung giật thót mình. Nhưng vì muốn tìm hiểu thêm cho nên nàng hỏi:
-Hợp tác xã là gì ? Có phải là hùn vốn để làm ăn không?
-Hợp tác xã có nghĩa là người dân làm chủ tập thể, nhà nước quản lý. Tất cả tài sản này là của nhân dân, phải trả về cho nhân dân.
Nghe nói vậy Hoàng Nhung lo lắng hỏi tiếp:
-Thế tôi còn được làm chủ nhà hàng này nữa không?
Bằng một cử chỉ rất thân mật, ông ta vỗ vai Hoàng Nhung nói như thể trấn an:
-Đừng có lo. Đảng và Nhà Nước ta lúc nào cũng sáng suốt cả. Nếu cô có lý lịch tốt. Nếu như công nhân cũ của cửa hàng này đồng ý bình bầu thì cô có thể ở lại phục vụ như một công nhân. Bây giờ công nhân là giai cấp cao quý, còn chủ nhân là giai cấp bóc lột, xấu xa lắm!
Đối với Hoàng Nhung lời nói của ông ta như tiếng sét nổ ngang tai. Mồ hôi trong người nàng rịn ra. Nàng run run nói:
-Như thế có nghĩa là tôi phải hiến cái nhà này cho “Cách Mạng” rồi nạp đơn xin được làm công nhân, có phải vậy không?
Lại nhếch mép cười, Tư Sang nói:
-Ấy chết! Nhà Nước đâu có lấy của ai…mà chỉ là…vào hợp tác xã thôi. Rồi đây Phường, Khóm sẽ có lệnh thi hành chỉ thị của Đảng và Nhà Nước.
Cùng với câu nói đó, ông ta một lần nữa lại thân mật vỗ vai Hoàng Nhung rồi quay trở lại chiếc bàn ăn, xách chiếc cặp, cùng hai người cận vệ bước ra ngòai xe.
* *
*
Ngày hôm sau, Hoàng Nhung nhận được giấy báo của Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thắng Nhứt cho hay tuần tới phải lên Phường để “học tập” về chính sách hợp tác hóa. Cầm tờ giấy báo trên tay, Hoàng Nhung choáng váng cả mặt mày. Nàng nghĩ tới lời nói của Tư Sang hôm qua, rồi đưa mắt ngắm nhìn Quán Hòang Hoa, nơi mà nàng đã tự tay xây dựng, điểm tô và gắn bó với nó hơn hai năm trời, rồi nàng gục xuống bàn, bật khóc. Chiều hôm đó nàng ra lệnh cho nhân viên tạm nghỉ ít ngày vì tự nhiên đầu nàng nhức như búa bổ và nàng cũng chẳng còn tâm trí nào để điều khiển nhà hàng nữa. Vả lại từ ngày “Cách Mạng” về mọi thứ đều do nhà nước quản lý cho nên thịt, cá, rau cỏ trở nên khan hiếm. Nếu mua chợ đen thì giá rất cao cho nên nhà hàng có mở cửa cũng chỉ thua lỗ. Lợi dụng mấy ngày đóng cửa, Hoàng Nhung lục lọi lại mấy băng nhạc cũ, mở thật nhỏ vừa đủ nghe để đầu óc bớt căng thẳng. Nhưng trong lòng đang buồn rười rượi cho nên nhạc cũng chẳng giải khuây được cho nàng. Còn đang chập chờn với mấy bản nhạc thì có tiếng gõ cửa ở bên ngòai. Tắt vội chiếc cassette radio, Hoàng Nhung hối hả ra mở cửa. Trước sự ngạc nhiên của nàng, người đang đứng chình ình ở đó không ai khác hơn Tư Sang.
Vẫn chiếc quần bộ đội màu cứt ngựa truyền thống, hôm nay Tư
Sang trông bảnh bao hơn một
chút nhờ chiếc áo sơ-mi màu
cháo lòng của Miền Bắc đã được thay bằng vải Tetoron trắng của Miền
-Ông tìm ai?
Tư Sang nhe răng cười đáp:
-Đến tìm bà chủ Quán Hoàng Hoa, người đẹp nhất Vũng Tàu.
Nghe y nói thế Hoàng Nhung đỏ cả mặt, muốn xáng cho y một bạt tai nhưng nàng cố dằn:
-Ở đây không có người đẹp nhất Vũng Tàu mà chỉ có người khổ nhất Vũng Tàu!
Làm ngơ trước lời nói móc của Hoàng Nhung, y gỡ cặp kính râm xuống, vừa lau vừa nói:
-Hôm nay tôi đến đây không phải là khách ăn của Quán Hoàng Hoa mà là đại diện của chính quyền cách mạng.
Hoàng Nhung lạnh lùng nói:
-Cũng vậy thôi.
Tư Sang cười nói:
-Không phải vậy đâu.
Nói xong y quay lựng lại, lấy tay ngoắc. Từ phía bên kia đường, một gã vệ sĩ hối hả lấy chiếc cặp da để trong chiếc xe Molotova, chạy băng ngang đường và lễ phép trao chiếc cặp cho y. Khẽ kéo chiếc khóa vải, lấy tay chỉ vào xấp giấy bên trong, Tư Sang nói:
-Theo tin tình báo nhân dân thì căn nhà này có liên hệ tới Đế Quốc Mỹ. Theo quy định của chính quyền cách mạng thì tất cả sẽ bị tịch thu để trả lại cho nhân dân.
Nghe y nói thế Hoàng Nhung điếng cả người. Nhưng bản năng sinh tồn trổi dậy, nàng phản ứng:
-Căn nhà này là do mồ hôi nước mắt của tôi! Các ông thử vào bên trong xem có người Mỹ nào sống ở đây không? Các ông định tịch thu nhà của tôi phải không?
Nói xong nước mắt nàng rươm rướm. Lặng lẽ xách chiếc cặp lên, tra kính vào mắt, Tư Sang lạnh lùng nói:
-Cái đó thì tùy cô. Tôi sẽ còn đến đây “làm việc” với cô nhiều lần nữa. Chào cô.
Khi Tư Sang đi được vài bước thì bao nhiêu uất ức trong người Hoàng Nhung trào dâng. Liên tưởng tới cái cảnh bị đuổi khỏi căn nhà này Hoàng Nhung bỗng thấy tủi thân và nàng gục mặt vào cánh cửa khóc như một đứa trẻ.
* *
*
Ngày hôm sau và những ngày tiếp theo đó Tư Sang lại đến. Nhưng lần này y tự nhiên bước vào nhà, ngồi chễm trệ ở phòng khách. Cũng có lần y đem tới một vài kilô đường, kem đánh răng, vài bánh xà-phòng nhưng Hoàng Nhung vẫn quăng ở một góc mà chẳng ngó ngàng tới. Viễn ảnh Quán Hoàng Hoa và căn đang ở bị tịch thu làm cho nàng trở nên gần như quẫn trí. Nàng bỏ ăn, bỏ ngủ, đầu tóc rối bù, mặt hốc hác như người bệnh nặng. Rất may trong một phút giây tỉnh táo, mặc dù không nặng đầu óc tôn giáo, nhưng để tìm chút an ủi, nàng ra chợ mua một bó hoa sen, một ít trái cây đem tới Chùa Linh Sơn. Sau khi lễ Phật xong, nàng cảm thấy có đôi chút bình an và quyết định lái xe ra Bãi Dứa.
Chiều hôm nay Bãi Dứa thật vắng người. Nắng đã khuất ở rặng núi phía sau nhưng mặt biển vẫn còn sáng. Một vài con tàu Liên-Xô, Trung Quốc, Bắc Hàn bỏ neo ở phía xa xa. Hoàng Nhung bước lần theo bãi cát để tiến tới một tảng đá bằng phẳng là nơi cách đây hơn hai năm, những lần ăn cơm chiều xong, Hoàng Nhung và Jimmy thường tới đây để trò chuyện và lấy tay chỉ ra ngòai xa. Ngọn gió chiều hất tung mái tóc nàng ra phía sau để lộ chiếc cổ trắng ngần và khuôn mặt thanh tú nay đã tiều tụy và hốc hác đi nhiều. Hoàng Nhung cứ ngồi yên như thế cho đến khi nắng chiều nhạt dần, rồi chuyển sang màu tím thẫm rồi màn đêm buông xuống tự bao giờ. Khi ngụp lặn trong hạnh phúc thì đầu óc người ta lâng lâng quên đi thực tại. Nhưng khi chìm đắm trong khổ đau thì bao nhiêu ký ức cứ lồng lộng hiện về. Giờ đây khung trời trước mặt nàng tự nhiên biến thành một màn ảnh khổng lồ và hình ảnh của ba người đàn ông được trình chiếu trên đó:
-Jimmy, một người dị chủng, đang bị những người đương
thời gán cho cái tên “quân xâm lược Mỹ” lại không tỏ ra cái gì gọi là xâm lược
cả. Jimmy luôn luôn giữ được tác phong của con người có tư cách và chưa bao giờ
tìm cách chiếm đọat thân xác nàng. Dù biết rằng khi đã rời xa Việt
-Còn Lê Hoàng Hoa? Anh đã chấp nhận ra đi. Chấp nhận dứt bỏ người mà anh thương mến chỉ vì anh không muốn người đó khổ. Yêu là đem lại hạnh phúc cho nhau hay yêu là làm khổ nhau? Nhưng theo Hoàng Nhung, anh đã biện minh cho sự mâu thuẫn của mình qua câu nói “Theo anh thấy các cuộc tình nghèo chỉ đẹp trong thi ca, phim ảnh và tiểu thuyết.” Dầu sao đi nữa suốt đời Hoàng Nhung vẫn không sao quên được Hoa, một con người có lý tưởng. Dù trong hòan cảnh tuyệt vọng và bi thương như thế, anh vẫn còn can đảm thốt lến “Anh mong gặp lại vợ con rồi được tái phối trí để trở lại mặt trận.” Và dù mạng sống của anh mai đây không biết sẽ như thế nào, anh vẫn còn để tâm lo lắng cho Hoàng Nhung “Nhìn em thân gái một mình giữa thời buổi lọan ly như thế này anh thật không yên tâm tí nào.” Nghĩ đến đây Hoàng Nhung không nén được tiếng thở dài. Nàng ngước nhìn lên, nhìn chăm chú vào hai ngôi sao nhỏ bé nằm xa tít ở cuối nẻo chân trời. Hai ngôi sao dù ở khoảng xa vô tận như thế chúng nó vẫn cứ nhấp nháy vào tỏa ra một thứ ánh sáng thật diệu kỳ. Nàng có cảm tưởng đó là đôi mắt của Lê Hoàng Hoa đang rưng rưng lệ khi anh nghĩ tới đất nước, gia đình và cả cuộc đời của Hoàng Nhung nữa. Rồi đôi mắt đó cứ lùi xa, lùi xa rồi nó vụt tắt trên bàu trời để rồi hình ảnh một người đàn ông thứ ba hiện lên, đó là…
- Tư Sang – một Thượng Tá Công An Việt Cộng. Một con người dễ sợ, miệng nói ra tòan danh từ đao to búa lớn như: Đạo Đức Cách Mạng, Giải Phóng Phụ Nữ, Đỉnh Cao Trí Tuệ, Khoan Hồng Nhân Đạo, San Bằng Bất Công Xã Hội…nhưng lại đang tìm đủ mọi cách để chiếm đọat tài sản và thân xác nàng. Là người “giải phóng” thay vì tìm cách nâng đỡ, chở che cho “người được giải phóng”, ông ta lại tìm cách tước đọat tài sản của người mà ông ta nói rằng ông ta đã phải hy sinh cả cuộc đời để đấu tranh cho họ. Mấy lúc sau này ông ta chẳng còn giấu diếm gì nữa mà buông lời sỗ sàng, gạ gẫm “ Lấy tôi thì cô còn giữ được ngôi nhà này..” và lời đe dọa “ Nếu không thì…cái gì…cô cũng biết rồi đó..” Có lúc Hoàng Nhung phẫn uất tự hỏi: Ngôi nhà này là của nàng tại sao nàng phải lấy hắn để được ở lại? Phải chăng đây là đặc quyền của kẻ chiến thắng? Nhưng càng lý luận Hoàng Nhung càng thấy mệt mỏi rã rời. Trong đời, chưa bao giờ nàng thấy cô đơn và tuyệt vọng như bây giờ. Nhìn ra ngòai xã hội, không một nơi chốn nào có thể giúp nàng. Không một tờ báo nào có thể nói lên nỗi oan ức của nàng. Không một tòa án, một luật sư nào có thể bảo vệ nàng. Không một cơ quan chính quyền nào để nàng có thể giãi bày khúc nôi. Giả sử nếu có một cơ quan như vậy thì nàng cũng sẽ phải đối đầu với một thứ “Tư Sang” còn tệ hại hơn cả Tư Sang này. Nghĩ tới viễn ảnh phải làm vợ Tư Sang nàng bỗng rùng mình và thân thể nổi cả gai ốc. Trên nền trời, hình ảnh của Tư Sang mới đầu còn nhỏ, sau cứ mỗi lúc mỗi lớn dần rồi nó trở thành một con quái vật khổng lồ đen ngòm chụp lên đầu nàng khiến Hoàng Nhung kinh hãi thét lên:
-Không! Không! Tôi không lấy ông đâu!
Tiếng thét đã kéo Hoàng Nhung ra khỏi cơn ác mộng. Con quái vật vừa đổ chụp lên đầu Hoàng Nhung thật ra chỉ là một đám mây đen bay lơ lửng trên đầu làm che khuất mảnh trăng hình lưỡi liềm và làm cho bầu trời tự dựng tối xầm lại. Khẽ vuốt mặt cho tỉnh táo trở lại và một quyết định táo bạo không biết từ đâu chợt đến. Ngày mai đây nàng sẽ bỏ về Sài Gòn. Nàng sẽ gửi cha mẹ tất cả số tiền còn lại và chỉ còn giữ một số cần thiết để vượt biên. Nàng nhất quyết phải ra đi, nhất quyết giã từ cái địa ngục bao la này để tiến ra ngòai biển cả kia với bao hiểm nguy mà nàng đã chứng kiến. Nàng sẽ để lại Quán Hòang Hoa và căn nhà này cho cộng sản, cho Tư Sang hay cho bất kỳ một cán binh nào đó…để tìm một chút tình người mà nàng không thể tìm thấy trong xã hội này.
Quyết định đựơc như thế, Hoàng Nhung cảm thấy nhẹ nhõm và bao tự tin lúc trước lại trở về. Giờ đây Bãi Dứa của Vũng Tàu hòan tòan vắng vẻ, chỉ có tiếng sóng vỗ rì rào. Nhưng sự im vắng đột nhiên bị phá tan bởi một đám bộ đội Hải Quân Việt Cộng đi lang thang trên bãi biển, vừa đi vừa nói chụyện lao xao. Thấy nàng ngồi một mình, tưởng đó là “gái ăn sương” chúng lên tiếng trêu ghẹo:
-Này người em gái, muốn “liên hệ tình cảm”với các anh không thì bảo?
Nói xong chúng cất tiếng cười hô hố. Lấy tay bịt hai lỗ tai lại, Hoàng Nhung vội vã đứng dậy, leo lên phía con dốc để tiến ra bãi đậu xe.
Giờ đây sương bắt đầu xuống nặng. Từ ngòai khơi những cơn gió bỗng lồng lộng thổi về và trùng dương bắt đầu thấm lạnh làm Hoàng Nhung khẽ co người lại và hai tay ôm chặt lấy thân hình trước ngực. Và bóng dáng cô đơn, nhỏ bé của nàng khuất vào màn tối mênh mông khi nàng tiến dần ra phía con đường cái.
Đào
Văn Bình
(1998)