ĐÓNG GÓP
CỦA
Bùi Trọng Cường
LTS: Quán Gió xin giới thiệu với quý thân hữu bài nói chuyện sau đây của bác sĩ Buì Trọng Cường tại đại hội VPS Úc Châu kỳ 10 vừa qua
Ngày 30-04 sắp tới đây sẽ đánh dấu 28 năm kể từ ngày miền Nam thất thủ. Với gần 3 triệu người hiện đang sống tại hải ngọai có lẽ cũng đã đến lúc một lần nữa chúng ta hãy thử cùng nhìn lại xem trong suốt thời gian đó và trong những năm sắp tới chúng ta đã và sẽ đóng góp được những gì cho quê hương.
Nhưng càng suy nghĩ tôi càng thấy sự bao quát của đề tài này. Độ bao quát đã quá rộng làm cho những dữ kiện đưa ra khó phối kiểm có thể làm cho đề tài thuyết trình trở nên “ba phải”, ai nói cũng được, thích thì khen mà không thích thì chê cũng chẳng sao. Sở dĩ tôi nói vậy vì tổ chức cộng đồng nơi có nơi không, nếu có thì mỗi nơi một khác, có những nơi không có lấy một cơ cấu đại diện. Hơn thế nữa gần ba triệu người Việt chúng ta lại sống rải rác khắp nơi trên nhiều quốc gia do đó thật khó có ai có thể biết hết những sinh họat của tất cả mọi tập thể, mọi người, mọi hội đòan. Thêm vào đó vì thống kê không có, báo cáo cũng không đủ nên bài thuyết trình này xin chỉ thu gọn vào bối cảnh của Úc Châu và dựa vào suy nghĩ của một số cá nhân độc lập và một ít kinh nghiệm thu thập được khi làm việc cộng đồng.
Tôi xin chia tạm thời gian sống ly hương ra làm ba giai đọan, thập niên đầu tiên từ 75-85. Trong thập niên này nhất là trong những năm đầu, cộng đồng tỵ nạn tương đối thuần nhất, có những suy nghĩ giống nhau, còn hận sự tráo trở, tàn bạo của cộng sản. Đại đa số lại vừa chân ướt chân ráo định cư tại quê hương mới sau một chuyến vượt bỉển thập tử nhất sinh và một thời gian dài nằm chờ trong các trại tỵ nạn. Quê hương Việt Nam lúc đó, chiến tranh vừa chấm dứt, vừa lọt vào tay cộng sản, nghèo và bị tàn phá bởi chiến tranh, dân chúng lo lắng hoang mang khổ sở chịu đựng những kế sách như tập trung cải tạo, kinh tế mới, đổi tiền, đánh tư sản... Sự đóng góp của cộng đồng tỵ nạn lúc đó cho quê hương nếu có cũng rất nhỏ chỉ là những số tiền, những gói quà gửi về cho gia đình, bạn bè để cứu đói, để chạy thuốc chữa bịnh.
Sang đến thập niên kế 85-95, cộng đồng tỵ nạn trở nên phức tạp hơn, những thay đổi nhen nhúm trong những năm cuối của thập niên trước đã rõ hơn. Sự thành lập và xuất hiện của quá nhiều hội đòan trong mọi lãnh vực từ tôn giáo đến đấu tranh, ái hữu, tương trợ, báo chí cũng đã làm giảm thiểu phần nào tiềm lực của cộng đồng trên phương diện nhân sự và tài chánh. Đó là chưa kể đến sự phân hóa, chống báng lẫn nhau đã làm cộng đồng yếu đi và đã làm cho thành phần thầm lặng ngày một đông thêm. Một yếu tố rất quan trọng mà không ai có thể chối cãi được đó là sự chao đảo lập trường của một số người trong cộng đồng.
Sau vài năm định cư tương đối gọi là thành công nơi quê người đã có người muốn trở về để khoe khoang, để hưởng thụ. Hiện tượng ‘áo gấm về làng’ đó đã không chỉ gây ra những hậu quả xấu trong cộng đồng hải ngọai mà còn làm những tệ nạn xã hội tại quê nhà vào thời gian đó tệ hơn. Ngòai thành phần này còn một số khác đã âm thầm về buôn bán, hợp tác làm ăn với chế độ. Một số lớn giới trẻ dù không sinh ra nhưng trưởng thành ở hải ngọai đã dần dần không còn cảm thấy có những ràng buộc với quê hương như thế hệ cha anh; họ không cùng có những thao thức phải đấu tranh cho tự do, dân chủ cho quê hương do đó sự tham dự của họ vào những sinh họat của cộng đồng đã giảm sút đi.
Tại quê nhà thì sau một thập niên củng cố quyền hành, áp dụng chính sách áp chế lên dân chúng, bạo quyền cũng đã nhìn thấy sự chống đối ngầm và vì sợ sự nổi dậy của dân, bọn chúng đã ban hành những biện pháp cởi mở gọi là ‘đổi mới’. Những biện pháp này không những đã làm giảm bớt được sự phẫn uất của dân chúng mà còn lôi kéo được một số người hải ngọai và công ty ngọai quốc vào đầu tư. Nhưng cũng vì những thay đổi đó mà tệ nạn tham nhũng cửa quyền, hối mại quyền thế đã tệ hơn. Hướng ra hải ngọai, vì bạo quyền mong muốn nắm lấy những ‘con bò sữa’ nên đã hòan tòan thay đổi chính sách. Những ngôn từ được dùng để chỉ người Việt hải ngọai như ‘ma cô, đĩ điếm, lũ người trốn tránh trách nhiệm...’ đã được thay bằng những mỹ từ như ‘khúc ruột ngàn dặm, những đứa con yêu của tổ quốc’. Một mặt thì dụ dỗ, một mặt thì tìm cách phá họai những tổ chức cộng đồng, tổ chức đấu tranh.... đó là lý do tại sao đã có những chiến dịch ‘hoa hồng xanh, hoa hồng đỏ’. Đó cũng là lý do tại sao trong thập niên đó một tên đại sứ của chúng đã dám hỗn xược tuyên bố là ‘sẽ phá vỡ tan cơ chế Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc’.
Tóm lại trong khỏang thời gian này cộng đồng hải ngọai ngòai ‘công lao’ góp phần cứu sống được nền kinh tế thoi thóp của VN cũng đã góp phần làm cho những tệ nạn xã hội tệ hơn. Nhưng riêng về phương diện đấu tranh, sự phổ biến những ý tưởng dân chủ, tự do cũng đã phát triển mạnh hơn trong khỏang thời gian này.
Thập niên 95-2005 đã và sẽ là thời điểm quan trọng cho rất nhiều sự thay đổi trên thế giới trong đó có VN. Tại hải ngọai dù con số người về VN vì lý do du lịch, thăm gia đình, ăn Tết đã tăng nhiều, dù số tiền người hải ngọai gửi về hay đem về VN đã lên đến 2 tỷ mỹ kim cũng vẫn còn những người thề quyết chỉ trở về khi VN có thay đổi, khi điều 4 trong hiến pháp bị hủy bỏ hay khi lá cờ máu không còn nữa.
Tôi muốn nói đến sự kiên định lập trường quốc gia, sự kiên trì cũng như sự thay đổi phần nào phương sách đấu tranh của người Việt hải ngọai chú trọng nhiều hơn về nhân quyền và những quyền tự do căn bản của con người như tự do tôn giáo, báo chí, hội họp ....
Tôi cũng đã có cơ hội nói chuyện với giới trẻ, đa số muốn tự họ đi tìm lấy sự thật, muốn nhìn thấy tận mắt và muốn tự họ có quyết định là nên làm gì cho quê hương.
Một số nhỏ đã kể lại là khi tiếp xúc với nhà báo Nguyễn Tú đã được khuyên là “quang phục lại con người VN là quan trọng hơn cả”. Do đó một số đã tìm cách nói lên những cảm nghĩ của họ qua hội họa, ca nhạc, kịch nghệ.
Những vở kịch như Chạy vòng vòng, Aussie bia ôm, Story of soil... đã nêu lên được một vài vấn nạn như ảnh hưởng của chiến tranh VN lên đời sống gia đình, những khó khăn trong sự hội nhập vào xã hội Úc, sự xung đột giữa cha mẹ và con cái do sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Việt và Úc....Một số anh chị em trẻ khác cũng đã hăng say trong những công tác từ thiện qua những tổ chức như ‘Hiểu và Thương’, ‘Hands For Hope’ tạm dịch là ‘Góp Một Bàn Tay’...mục đích là để gây quỹ cứu trợ giúp người nghèo đói, tàn tật; bảo trợ cho những em bé bất hạnh không có cơ hội học hành.... Các em kể là những tổ chức từ thiện đó cũng chú trọng cả đến vấn đề tu thân, phát triển tâm linh, đạo đức cho cả người cho lẫn người nhận qua những buổi thảo luận, chia sẻ... và vì làm được vậy nên các em đã cảm thấy gần gủi hơn, cảm thông hơn với các em bé bất hạnh ở VN. Được hỏi về tình hình cũng như sự suy nghĩ của giới trẻ tại VN các em đã nói “ Giới trẻ tại VN nói chung không hận thù và quy trách nhiệm cho ai về hòan cảnh bất hạnh của họ, họ rất hăng hái và ham muốn học hỏi về sự tiến bộ và đời sống ở nước ngòai”.
Tại hải ngọai thì như vậy nhưng trong nước thì khác hẳn, bạo quyền Hà nội qua Phan văn Khải đã ban hành cả một nghị định về vấn đề kiều vận và việc xâm nhập vào cộng đồng hải ngọai đặt nặng trên phương diện văn hóa qua việc gửi những ca nhạc sĩ, sách vở, video, CD, băng nhạc... ra nước ngòai, dụ dỗ tạo những điều kiện dễ dàng cho người Việt trở về sinh sống, làm ăn, tạo mãi bất động sản mà mục đích chính vẫn để làm suy yếu ý chí và khả năng đấu tranh chống lại chính sách đàn áp vô nhân của chúng. Chưa bao giờ bạo quyền lại đem ra áp dụng những chính sách đàn áp tôn giáo như hiện nay. Không riêng gì Phật giáo, Thiên Chúa giáo mà cả Cao Đài, Hòa Hảo, Ky Tô giáo cũng đều chịu chung số phận. Tù đầy, giam lỏng, cô lập... là những biện pháp mà chúng đã đem ra áp dụng cho mọi thành phần từ lãnh tụ các tôn giáo đến những tù nhân lương tâm kể cả thành phần thức tỉnh bỏ đảng, phê bình chỉ trích đảng. Thật vậy chưa bao giờ mà nhóm này lại đông và bao gồm nhiều thành phần như vậy từ các nhà trí thức khoa bảng, đến các văn thi sĩ, các luật gia, các cựu đảng viên mà đặc biệt nhất là đã có một số người rất trẻ đã mạnh dạn lên tiếng cảnh giác quốc dân, cảnh tỉnh bạo quyền về những âm mưu của Trung cộng. Kể từ khi chiếm được Nam VN chưa bao giờ bạo quyền lại bị chống đối dữ dội như vậy. Không chống đối sao được khi tham nhũng hiện nay là một quốc nạn thấy được cả trong quân đội, trong hệ thống hành chánh từ trên xuống dưới, chống đối vì tệ nạn xã hội như mãi dâm, tội phạm thì ngày một gia tăng một cách trầm trọng.
Có người đã hỏi tôi, giả sử như ngày mai bạo quyền ở VN bị lật đổ - mà chuyện đó có thể xảy ra bất cứ ở thời điểm nào - chuyện gì sẽ xẩy ra và chúng ta sẽ phải làm gì ?
Theo thiển ý chính phủ trong tương lai cần phải có hẳn một bộ để lo cho tất cả những dịch vụ của người Việt tại hải ngọai. Bộ đó sẽ họat động song song với bộ ngọai giao và chúng ta sẽ có ngày VN, Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu tổ chức đồng lọat khắp thế giới. Chúng ta sẽ có những chương trình hướng dẫn du lịch, thăm quê hương, về quê ăn Tết....
Ngòai ra chúng ta cũng có thể có những cộng đồng ở hải ngọai bảo trợ cho những trường học, tặng những học bổng cho các em học sinh xuất sắc tại quê nhà. Đó là chưa kể đến những hội đòan lớn có thể bảo trợ cho các bịnh viện, các viện mồ côi.... Chúng ta sẽ có rất nhiều việc để làm, xây dựng lại quê hương sau bao năm chiến tranh không phải là một việc dễ, người cộng sản đã có gần 30 năm để làm việc đó nhưng họ đã không làm. Tôi tin tưởng sau khi có thay đổi thể chế người Việt trong và ngòai nước sẽ làm được việc này nhưng phải có thay đổi cái đã.
Kính thưa quý vị,
Việt Nam sẽ thay đổi nhưng sự thay đổi đó đến được nhanh hay chậm là do sự quyết tâm của tất cả chúng ta người Việt trong và ngòai nước. Là người ở hải ngọai tôi nhận thấy:
- Lịch sử đấu tranh của người quốc gia cần được phổ biến rộng rãi đến giới trẻ.
- Chúng ta cần tập trung mọi nỗ lực để phá vỡ sự bưng bít thông tin của bạo quyền để phổ biến đến mọi giới quần chúng những quyền căn bản của con người, những quyền lợi của giới công nhân, những phương cách chống lại sự tham ô nhũng lạm... Quan trọng hơn là phổ biến được đến mọi giới quần chúng âm mưu bán nước, bán biển đã có từ năm 1958 của CSVN cho Trung Cộng, âm mưu này vẫn còn vì bọn đầu lãnh tại Hà Nội chỉ mong muốn được tiếp tục ngồi trên đầu trên cổ dân ta nên sẽ sẵn sàng để dâng hiến thêm nếu cần. Làm được việc này chúng ta sẽ có cơ hội vạch trần âm mưu thôn tính VN bằng kinh tế và sau cùng biến VN thành một bang hay một tỉnh của Trung Cộng. Đây là một đại họa mà tất cả chúng ta đều phải đề cao cảnh giác nhưng đây cũng là một mẫu số chung đem người Việt trong nước và hải ngọai lại gần với nhau hơn.
- Giới trẻ hải ngọai đã nối được vòng tay, đã có được những Đại hội Thanh niên Sinh viên tòan thế giới. Đã có những anh chị em trẻ trở về quê hương để thấy tận mắt, nghe tận tai, chứng kiến được sự nghèo khổ của đồng bào, sự lạc hậu của quê hương để rồi chính những người trẻ đó sẽ kể lại cho bạn bè cùng nghe. Đã có một số anh chị em trẻ khác hăng say trong những công tác từ thiện để gây quỹ cứu trợ giúp người nghèo đói, tàn tật; bảo trợ cho những em bé bất hạnh không có cơ hội học hành.... Tôi xin đề nghị các em hãy làm hơn nữa như đã có em nói với tôi ‘chúng cháu muốn làm nhịp cầu giữa giới trẻ VN và thế giới bên ngòai để trao đổi tình bạn, sự hiểu biết, kinh nghiệm sống’... Ngày nay với mạng lưới tòan cầu Internet, tôi tin các em sẽ làm được vì không có gì quý bằng sự cảm thông trong lúc này để rồi cùng bắt tay lo cho tương lai của chính chúng ta và quê hương trong mai sau.