Tản mạn về
Con Người Nhật
Bản
Một lời từ ái
có thể làm ấm suốt ba tháng đông hàn
--- Ngạn ngữ
Nhật
Đào
Viên
Tờ báo New York Times trong số ra ngày 9 tháng 11, 2005 có đăng một bài phóng sự đã khiến cho độc giả gốc Á Châu như tôi không khỏi lưu tâm. Bài báo nói về hai cuốn sách mới xuất bản bên Nhật, bán khá chạy - ngay nhà xuất bản cũng phải ngạc nhiên - được giới thanh thiếu niên Nhật rất hưởng ứng.
Một cuốn, loại “comic book”, có tên là : “ Thù ghét trào lưu Đại Hàn” của một nữ tác giả trẻ tuổi (Shinyusha ) với sự cộng tác của một họa sĩ (Sharin Yamano), kể lại quá trình tẩy não Kaname, một thiếu niên Nhật, để làm cho anh ta phải hiểu là dân Đại Hàn rất đỗi xấu xa. Bắt đầu, Kaname được kể là dân Đại Hàn đã ăn gian thế nào trong trận Túc Cầu Quốc Tế năm 2002 (World Cup 2002) để được vào bán kết. Trong những trang kết tiếp, Kaname đưọc kể là dân Đại Hàn đã được Nhật Bản giúp đõ ra sao mới mở mày mở mặt ra được như ngày nay Vì thế mà Kaname, nơi cuối sách “đã có một nhận định đứng đắn là chính Nhật Bản đã tạo dựng nên nước Đại Hàn”. Dân Đại Hàn được mô tả như là một dân tộc hèn kém và “Văn Hoá Đại Hàn chẳng có gì để đáng hãnh diện hết”. Tất nhiên sách này không đả động gì đến những hành động tàn ác và khắc nghiệt của Nhật khi chiếm đóng xứ này, tới nạn bắt đàn bà con gái Đại Hàn làm Nô Lê Tình Dục phục vụ cho quân đội Phù Tang trên khắp các chiến trường trong Đệ Nhị Thế Chiến(1)
Cuốn sách thứ hai, cũng một “comic book”, nói xấu về Trung Quốc, còn tệ hại hơn nữa. Sách này mô tả dân Trung Hoa là một dân tộc lạc hậu, bán khai, vẫn còn có “nạn ăn thịt người”, một dân tộc đê tiện, được sách nói riễu là “một Đại Cường chuyên sống sống bằng đĩ diếm”. Sách còn khẳng định một cách vô bằng chứng rằng 10% lợi tức quốc gia của Trung Quốc là từ nạn đĩ điếm mà ra. Ngoài ra sách còn cho Trung Quốc là cái lò sản xuất ra những bệnh tật những bệnh thời khí, khi nhắc lại, không biết có đúng không, một lời nói của Thủ Tướng Junichiro Koizumi cho rằng “phần lớn những bệnh thời khí lan tràn bên Nhật là từ Trung Quốc đến”. Cũng như sách trên, tất nhiên là sách này không đả động gì đến những tôi ác của Nhật đối với nhân dân Trung Quốc, đặc biệt khi quân đội Phù Tang tiến vào Nam Kinh(2).
Một điểm đáng chú ý là những lời phỉ báng quá mức đó đã được giới thanh thiếu niên Nhật hưởng ứng nồng nhiệt – 360,000 cuốn “Thù Ghét…” được bán sạch trong bốn tháng chứng tỏ điều này - mà trong khi ấy không có một phản ứng nào của giới thượng lưu trí thức lãnh đạo trong nước. Không thấy những tiếng nói đứng đắn, mực thước của những người có ảnh hưởng nào lên tiếng, mà chỉ có một sự im lặng đồng lõa khó hiểu. Không những thế, nhóm thủ cựu, tiêu biểu bởi tờ nhật báo Sankei Shimbun, đã lại cho rằng những cuốn sách bài Hàn, đả Hoa đó “rất hợp lý, và phải chăng, không có gì là quá đáng”. Người ta có thể suy ra rằng dường như tinh thần bài Đại Hàn, chống Trung Quốc đã âm ỉ trong giòng chính của nước Nhật từ nhiều năm nay.
Điều trớ trêu là nếu giữa hai dân tộc Nhật bản và Đại Hàn còn có một hận thù lịch sử nào đó thì phải là niềm thù hận của người Đại Hàn đối với người Nhật, vì những hành động tàn ác dã man của quân đội Thiên Hoàng khi chiếm đóng Hàn Quốc. Cũng thế đối với hai dân tộc Nhật Bản và Trung Quốc. Nhật Bản không có lý do lịch sử nào để thù hận Trung Quốc sau khi đã gây ra một thảm cảnh lịch sử còn được thế giới nhắc đến ngày nay dưới danh từ Anh ngữ “the rape of Nanking(2)”. Nếu ngày nay ở Hàn Quốc hay ở Trung Hoa có phong trào bài Nhật thì là một điều dễ hiểu Trường hợp ngược lại thì chỉ có thể được giải thích ở những những lý do sâu xa, thầm kín trong tinh thần, trong tâm hồn người Nhật
Tinh thần bài Đại Hàn bắt đầu lên cao sau kỳ Túc Cầu Quốc Tế năm 2002 được hai nước Hàn Nhật tổ chức song hành, mặc dầu đội ban của hai nước không hề giao đấu để so tài trực tiếp(3). Dân Nhật cảm thấy rất buồn bực, nếu không phải là nhục nhã, vì đã thua kém Đại Hàn. Sau đó Đại Hàn đã dành được ảnh hưởng rất lớn trên mọi thị trường văn hóa kinh tế quốc tế, nhất là ở Đông Nam Á, - kể cả ở Nhật -, từ phim ảnh, chương trình truyền hình, ca nhạc cho đến công nghệ xe hơi, chế phẩm điện tử.
Còn đối với Trung Quốc, lòng đố kỵ của dân Nhật lại khác. Sự lớn mạnh của nền kinh tế Trung Quốc, do đó vai trò chính trị nước này, trong vùng Á Châu, đã đe dọa địa vị “cường quốc kinh tế” mà Nhật vẫn được công nhận từ trước đến nay. Uy tín lớn lao của Trung Quốc trong các diễn đàn quốc tế, như hội nghị 6 nước giải quyết vấn đề Bắc Hàn với bom nguyên tử đã lấn át ảnh hưởng của Nhật gầy dựng từ bao năm qua. Người Nhật lại càng buồn bực hơn khi công cuộc vận động của Nhật tại Liên Hiệp Quốc để được bầu vào Hội Đồng Bảo An, đã bị Trung Quốc ngăn chặn.
Những nhận xét trên chỉ giải thích phần nào tại sao trào lưu bài Hàn, chống Hoa lại lan tràn trong xã hội Nhật trong những năm gần dây. Đó chỉ là những nguyên cớ súc tác làm bùng lên phong trào bài Đại Hàn, chống Trung Quốc. Chắc chắn là những chuyện ấy đã không phải là đầu dây mối nhợ, không phải là căn nguyên sơ thủy của tinh thần bài xích hai dân tộc Hàn và Hoa của dân Nhật.
Tác giả bài phóng sự (Norimitsu Onishi) có nhắc đến một nhà trí thức Nhật rất nổi tiếng và có nhiều ảnh hưởng từ thế kỷ trước, ông Yukichi Fukuzawa. Ông này trong một cuốn sách ông viết năm 1885, có tên là “Phải ra khỏi Á Châu” chủ trương là Nhật Bản phải bỏ Á Châu mà “hòa mình với những nước văn minh Tây Phương”, bởi vì các nước láng giềng của Nhật (Trung Hoa và Đại Hàn) quá lạc hậu. Nhật Bản phải dứt bỏ hẳn những nước láng giềng lạc hậu đó mà theo gương bắt chước các nước Tây Phương. Fukuzawa còn viết là “dính vào những bọn xấu xa, thì sẽ mang tiếng xấu xa” và “chúng ta (Nhật Bản) phải đối xử với chúng (Hàn và Hoa) y như Tây Phương đã đối xử với chúng”. Yukichi Fukuzawa, đã được coi như là nhà lãnh tụ trí thức cha tinh thần của nền Canh Tân Nhật Bản. Chẳng có thế mà chân dung ông đã được in trên tờ giấy bạc 10,000 Yên (xấp xỉ $100 đô la Mỹ). Nhiều người nghĩ rằng tư tưởng của ông đã là nền móng chỉ đạo cho chủ trương đi chinh phục các nước khác để chiếm làm thuộc địa của nhóm quân phiệt Nhật trong những năm sau đó.
Ngày nay, dầu Nhật đã bị bại trận trong Đệ Nhị Thế Chiến, giấc mơ làm bá chủ Á Châu, xây dựng một đế quốc thuộc địa rộng lớn, cai trị bằng sức mạnh, dùng võ lực khống chế các quốc gia khác, đã xụp đổ tan tành, nhưng những tiếng vọng của những người như Yukichi Fukuzawa, vẫn còn dội vào tai nhiều nhà trí thức Nhật. Kanji Nishio, một nhà thông thái ở địa vị Thủ Tọa Hội Cải Tổ Sách Giáo Khoa Sử Học Nhật Bản, nói tới Yukichi Fukuzawa, đã cho rằng kể từ 1885 đến nay Đại Hàn và Trung Hoa vẫn không khá lên chút nào. Ông ta nói: “Tôi không hiểu tại sao họ (Đại Hàn và Trung Hoa) chẳng chịu học hỏi”, “họ vẫn vậy”, “họ không trưởng thành lên chút nào”. Ông Nishio và những người trong Hội Cải Tổ Sách Giáo Khoa dạy môn Lịch Sử tại Trung Học đã chủ trương loại bỏ tất cả những đoạn trong các sách giáo khoa nói tới những cuộc tàn sát đẫm máu gây ra bởi quân đội Phù Tang ở Trung Hoa và ở Đại Hàn trong Thế Chiến vừa qua.
Tư tưởng tự cao tự đại đượm mầu bài ngoại, khinh rẻ những dân tộc không được phát triển bằng mình của người Nhật thực là một điều đáng ngại. Nhất là khi tư tưởng này lại được tôi luyện trong một truyền thống mà họ rất hãnh diện - truyền thống võ sĩ đạo của con cháu Thái Dương Thần Nữ - coi sinh mạng con người, của chính mình cũng như của người khác, không quan trọng bằng cái “danh dự”, cái tiếng, có khi chỉ là cái danh tiếng hão; coi cái chết nhiều khi là của người khác, của kẻ đối thủ, là điều không đáng bận tâm. Người Nhật đã có câu ngạn ngữ: “Trách nhiệm bổn phận thì nặng như núi Thái Sơn mà tính mạng thì nhẹ như lông hồng”
Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản - mỉa mai thay từ Đại Hàn(4) từ thế kỷ thứ VI, rồi sau đó từ Trung Quốc - dường như đã không đủ sức cảm hóa một dân tộc kiêu hùng, hãy bớt khinh nhân, ngã mạn mà thêm từ ái, khiêm cung, bớt kiêu căng, dũng mãnh mà thêm từ bi, khoan dung, hãy tạm bỏ danh dự, nên luôn nhớ sám hối; mặc dầu nước này đã đào tạo ra những Thiền sư nổi danh như Bạch Ẩn Huệ Hạc (1685-1768), Hồng Xuyên Tôn Ông (Kosèn Sòon 1816-1892), Hồng Nhạc Tông Diễn (Kògaku Sòen 1859-1919) vân vân…
Trung Hoa là một dân tộc từng có
một nền văn minh rất cao ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của nhiều dân tộc
khác, để lại dấu ấn lên nhiều nền văn minh khác – kể cả văn minh Phù Tang - qua
văn tự, thi ca, âm nhạc, kiến trúc. Đại Hàn, còn được biết đến dưới tên Cao Ly,
Triều Tiên cũng là một dân tộc kiên cường, vượt qua được nhiều thử thách gay go
khi phải tiếp cận với Trung Hoa, Tây Âu(5), và Nhật Bản, để vẫn giữ
vững được bản chất của mình. Cả hai nước này đều bỏ xa Việt
1)
Theo giáo sư Su Zhi Liang, thuộc trường Đại Học Sư
Phạm Thượng Hải, thì con số 200,000 nô lệ tình dục của Liên Hiệp Quốc đưa ra
là quá ít, vì theo sự điều tra của ông ngày ấy riêng tại Thượng Hải, quân đội
Nhật đã mở ra 90 trạm điếm tình dục cho quân nhân của họ, mỗi nhà có khoảng 500
phụ nữ, phần lớn là người Đại Hàn.
2)
Khi quân đội Nhật tiến vào Nam Kinh, từ tháng 12, 1937
dến tháng Hai 1938, họ đã reo một kinh hoàng vô tiền khoáng hậu: Trên 350,000
người dân Trung Hoa đả bị quân đội Nhật giết chết 20,000 phụ nữ bị hãm hiếp. Số
ngườiTrung Hoa bị Nhật giết riêng tại Nam Kinh còn cao hơn số người Nhật chết vì hai quả
bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki – Tài liệu viết năm 1997 của giáo
sư Ying-shih Yü, trường Đại Học Princeton, Hoa Kỳ.
3)
Nhật, xếp trong bảng 16 nước tranh tài tại Nhật , đã bị
Thổ Nhĩ Kỳ loại với tỷ số 0-1, ngay lần tứ kết. Trong khi Đại Hàn, xếp trong
bảng 16 nước tranh tài tại Hàn Quốc, ở vòng tứ kết đã loại được Ý Đại Lợi với tỷ
số 2-1, để vào bán kết. Nhật đã ở
bị Đức đá hạ trong vòng bán kết với tỷ số 1-0.
4)
Phật giáo được du nhập vào
Nhật Bản từ thế kỷ thứ sáu qua ngả Bách Tế tức Triều
Tiên hay Ðại Hàn bây giờ. Sử chép rằng năm 538 sau Tây Lịch, một tăng đoàn Triều
tiên, được Thái Tử ở Kudura phái sang triều đình Nhật để giới thiệu một tôn giáo
tốt đẹp nhất, theo ông ta. Lúc đầu triều đình Nhật, dưới ảnh hưởng của Thần Đạo,
rất chia rẽ về chuyện này. Phải chờ
đến nửa thế kỷ sau, khi Thái tử Shokutu (Thánh Ðức) làm Nhiếp Chính Vương, khi
đó ngài mới 19 tuổi, thì Phật giáo mới được hoàn toàn chấp
nhận.
5)
Sang thế kỷ
thứ 18, Đại Hàn cũng bị các đế quốc
Tây Phương đe dọa, đem lại nhiều xáo trộn cho quốc gia. Khởi đầu là những nhà
truyền giáo Gia Tô La Mã Pháp từ Trung Hoa sang Triều Tiên (khoảng năm 1784).
Cũng như triều đình nhà Nguyễn, Nhiếp Chính Vương Ðại Viện Quân (Taewon’gun)
Triều Tiên đã cấm đoán việc truyền giáo vì thấy không hợp với truyền thống quốc
gia và có hại cho uy tín triều
đình Cũng như Việt Nam, Triều Tiên
đã bị người Pháp, lấy cớ đó, dùng vỏ lực tấn công vào năm 1866. Không những thế,
Hoa Kỳ cũng lấy cớ triều đình không chịu giao thương, đã tiến đánh vào năm 1871.
Tuy nhiên vua quan và nhân dân Triều Tiên đã đồng tâm hiệp lực đẩy lui được hai
cuộc ngoại xâm, và giữ vững được nền độc lập, bảo toàn được lãnh thổ, duy trì
được nền quân chủ truyền thống, trong khi vua quan nhà Nguyễn tại Việt Nam đã để
quốc gia rơi vào tay người Pháp.
Tháng 12,
2005