TIẾNG VIỆT SINH HOÁ
Tản mạn của Lưu Văn
Vịnh
Giọng nói
Mới thoạt nghe, tưởng như Việt
Từ điển : tiếng Việt và Anh-Pháp-
Việt
Xưa nay các học giả thường đơn thương độc mã ngồi soạn Từ điển như
Đào Duy Anh, Đào văn Tập, Đào Đăng Vỹ, Thanh Nghị, Nguyễn Văn Khôn..với phương pháp làm việc cổ điển : dùng fiches ghi nghĩa,
văn liệu..và dùng các cuốn từ điển xuất bản từ trước.
Một học giả lỗi lạc đến đâu, như Huỳnh Tịnh Của, cũng không thể bao sân trọn vẹn
ngôn ngữ khắp vùng đất nước..một nhân tố quan trọng nữa
là ngân quỹ, nếu không có tài trợ từ chính quyền hay từ tư nhân hằng sản thì cá
nhân hay nhóm soạn Từ điển (như nhóm Đào văn Tập soạn Bách Khoa) không thể làm
việc hữu hiệu, cho nên mới có những sơ xuất như từ Chẹp bẹp trong Việt Nam Tự Điển ( theo
bản khởi thảo thập niên 1930, bản hiệu đính sửa chữa đang soạn để tái bản bị mất
giữa chiến tranh), của Hội Khai Trí Tiến Đức chép theo nghĩa sai lầm của một ông
Tây (Génibrel) là bằng phẳng ( xem Nguyễn
Hy Vọng)..nếu ban soạn thảo có ngân quỹ mời được
các học giả từ các miền Bắc,
Bây giờ, với máy vi tính, việc soạn thảo Từ điển dễ hơn gấp bội, mà việc
liên lạc xin ý kiến đóng góp bốn phương tứ xứ, việc ấn loát, cũng nhanh hơn
nhiều. Tuy vậy, dám chắc không học giả nào có thể biết hết các phương ngữ, tỷ
dụ, quê ngoại tôi vùng ven sông Bạch Đằng, gần Bái Tử Long, có một loài hải sản
gọi là con NGÁN, hơi giống con nghêu, nhưng vỏ mầu đen, nấu canh ngon tuyệt vời, nhưng hỏi cả Hà Nội lẫn Sài Gòn, không ai biết đặc
sản ấy, ngoại trừ số dân ít ỏi vùng quê tôi ! Trong khi
chờ đợi một Hàn Lâm Viện quốc gia, số người làm Từ điển tăng lên nhiều, số người
khảo cứu về nguồn gốc tiếng Việt, cảm hứng theo Bình Nguyên Lộc, cũng gia
tăng..nhưng nếu chọn ngôn ngữ một vùng cổ xưa nhất của
dân tộc làm chuẩn, thì vùng ấy là châu thổ sông Hồng, xuất phát điểm của nước
Việt. Tiếng Việt cổ vùng này chắc chắn cũng đã bị pha trộn nhiều qua hơn 900 năm
Bắc thuộc, nhưng rồi khi đi vào phương Nam qua cuộc Nam tiến, nó lại pha trộn
thêm với ngôn ngữ Chàm, Khmer..Nếu gọi V là tiếng Việt cổ, thì V1 là tiếng Việt
pha tiếng Tầu ( Quảng hay Bách Việt, Quan thoại..), V2
pha thêm Chàm, V3 pha thêm Khmer..Nếu đi ngược lại, truy tầm gốc rễ của V, thì
có thể lại thấy trong V đã có Mon Khmer, Đa Đảo..nghĩa
là cũng đã có gốc chung với Chàm, với Khmer từ lâu lắm, trước khi có
Gốc Dân tộc- Gốc Ngôn ngữ
Gốc ngôn ngữ và gốc dân tộc cần khảo cứu song hành. Hùng Vương người gì ? có nhiều phần là Mường, An Dương Vương từ đất Thục chạy xuống phía Nam, hẳn nói tiếng Tầu (Ba Thục Tứ Xuyên?) chứ không thể nói tiếng Mường, nhưng khi thua sao lại chạy xuôi Nam xuống Mộ Dạ ( Nghệ An) ? Họ Mai là họ Chàm, Mai An Tiêm, Mai Hắc Đế..có nói tiếng Chàm không ? Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành cho đến Lê Lợi, đều gốc Mường, vậy có thể nhìn dân tộc Việt từ thời lập quốc như một tập hợp nhiều bộ lạc, đa chủng, đa ngôn ngữ, sống cạnh nhau, vua Hùng Vương cai quản một bộ tộc lớn mạnh nhất mà thôi. Mãi tới thế kỷ X mà còn 12 sứ quân, mỗi làng xã như một đơn vị có khi nói giọng khác nhau, phương ngữ rất nhiều..Với 54 sắc tộc chung sống, mỗi sắc tộc cũng biến thể theo thời gian, khi hợp vào người Kinh, khi riêng rẽ một khu bảo tồn truyền thống ( như khu Thái, Hmong..), khi nhóm Mường Đinh, Lê còn ở khu vực của mình, quanh vùng Hoa Lư, thì không có chuyện gì xẩy ra, nhưng tới thế kỷ 14, sau 400 năm Lý Trần, người Việt đã biến hoá sang người kinh trong miền châu thổ sông Hồng, thì nhóm Mường Lê Lợi kéo ra Thăng Long đã có khác biệt văn hoá tới mức độ thanh trừng phe phái : bốn nhân sĩ gốc kinh, Trần nguyên Hãn, Phạm văn Xảo, Lưu Nhân Trú ( lãnh tụ kháng chiến áo đỏ vùng Thái nguyên), rồi Nguyễn Trãi..đều bị phe phái gốc Mường giết. Xung khắc biết đâu chẳng bắt nguồn từ ngôn ngữ bất đồng, kinh nói gà, Mường nói vịt chăng ? Ta có câu : chửi cha còn hơn pha tiếng, nhại giọng nhau, va chạm mặc cảm, rất dễ gây bất hoà, dù là đùa dai giọng trọ troẹ kiểu Trạng Quỳnh (tk 18 ?) :
Bãn hạng nay cô đã mấy
tuồi
Nước cô còn nõng hay la nguồi
Lụng lặng trên treo dăm nắm nẹm
Lơ phơ dưới móc một buồng chuồi
Bánh dạn bánh dày đều xoa mợ
Khoai ngựa khoai lang cụng chấm
muồi
Ăn uống xong rôi tiên chưa đụ
Biệt nhau cho chịu một vài buồi
Đọc đúng vần :
Bán hàng nay cô đã mấy
tuổi
Nước cô còn nóng hay là nguội
Lủng lẳng treo trên dăm nắm nem
Lơ phơ dưới móc một buồng chuối
Bánh dán bánh dầy đều xoa mỡ
Khoai ngứa khoai lang cũng chấm
muối
Ăn uống xong rồi tiền chửa
đủ
Biết nhau cho chịu một vài buổi
(
trích theo Văn Đàn Bảo Giám 1926 tr.15)
Đọc bài thơ trên mới thấy 5 dấu trong tiếng Việt rất quan trọng, năm dấu như ngũ cung, đầy nhạc tính, nhưng nếu sai dấu thì ý nghĩa một ly đi một dặm, một vài buổi thành một vài buồi ( tục !), chưa đủ thành chưa đụ (tục!)..
Ngọn Dân tộc- Ngọn Ngôn ngữ
Theo tài liệu dân tộc học trong nước thì Việt
1- Việt-Mường ( Việt, Mường, Chứt, Pọng) trên 80% dân số -
2- Tày-Thái ( Tày đến từ tk I, Nùng, Thái từ tk 9, Sán Chí, Lào- Người Tày ở Cao Bằng, Lạng Sơn trở thành người Việt qua giao lưu văn hoá từ tk 16-17 với Triều đình Mạc di lên Cao Bằng)
3- Dao-Hmong ( Dao từ tk 13, Hmong tk 18 )
4- Tạng-Miến ( Lô Lô..)
5- Hán ( Hoa, Sán Dìu từ Quảng Đông)
6- Môn-Khmer ( Khơ Mú, Khơ Me, Mạ, Ba-na..)
7- Mã Lai-Đa Đảo ( Malaysian-Polynesian- Chàm, Gia Rai, Ê Đê..)
8-
Ghi chú : Hmong là Mán, Dao là Mèo, Thổ ( nhiều bộ
lạc) và Chứt-nghĩa là vách núi đá-, chỉ còn 2400 người ở vùng Nghệ An, Quảng
Bình. Ba nhóm thiểu số Tày, Mường, Thái đông nhất ở miền Bắc, kể từ Nghệ Tĩnh
trở ra. Dân Mường-còn 900,000 người ở dài từ Phú Thọ tới Hoà Bình và Thanh Hoá,
họ là bộ tộc vùng núi còn lại chưa bị pha trộn từ đời Hùng Vương chăng ? Các
nhóm thiểu số khoảng 15% dân số toàn quốc nhưng họ cư trú miền rừng núi chiếm
2/3 diện tích đất nước !
Ngôn ngữ Tiền Việt Mường, qua tiếng nói người Pọng ( còn vài trăm mạng sống ở biên giới Lào- Việt vùng Nghệ An), Tày, Mường, Rục..cho thấy tiếng Việt cổ dùng song tiết và có âm L cuối từ như kavèl (làng), kacèt (ghét, giết)..trước khi chịu ảnh hưởng đơn tiết của Tầu. Càng về sau, trăm năm nay, tiếng Việt càng trở lại song tiết qua cách đặt 2 từ đồng nghĩa như dấu vết, yêu dấu, thợ thuyền.. ( theo P.Papin trong ViệtNam, Parcours d’une nation -bản dịch Nguyễn Khánh Long, Canada 2001- tr. 59)
Tiếng Việt Sinh tồn và Tiến hoá
Tiếng Việt rất phong phú, chẳng những hình dung từ mô tả cảnh, tình, đại danh từ xưng hô theo ngôi bậc, địa vị, quan hệ ( cô dì chú bác..), mà cả động từ mô tả tác động. Riêng một động từ lột vỏ một quả cam, một quả cau, tiếng Việt có những từ như : GỌT , BÓC, LỘT, BỔ cam, bổ cau, CẮT ..rồi từ đấy lại có thể biến ra BÓC LỘT, ĐẼO GỌT, CẮT XÉN..Giếng nông, giếng cạn..tiếng Pháp nói profond hay peu profond, không có riêng hai từ Nông, Cạn như ta. Hán có đường kính và bán kính, ta có thể dùng đường bán kính hay nôm na là đường Tia ( như tia sáng từ một trung tâm điểm phát ra, tia bánh xe..).
Đại danh từ xưng hô rất tế nhị, tuỳ
tuổi tác, tuỳ quan hệ tình cảm, phản ảnh rất trung thực nền văn hoá làng xã
dựa trên lễ phép. Ngay trong chùa chiền, cũng dùng cách xưng
hô thân tình : sư tổ ( già cả, có thể trên 70), sư cụ ( trên 50-60), sư ông (
trung niên 40-50 không có nghĩa ngang ông nội bà nội !), sư bác ( trẻ
hơn, 30-40, từ bác theo lối xưng hô
của miền Bắc Việt chỉ hàng cha chú mà cũng có khi chỉ hàng ngang
của mình : bác ăn mày, bác nông phu, mời bác hút thuốc, xin
các bác nâng ly.. ), chú tiểu..Nay có người chế thêm Sư chú, sư em…đã kính trọng gọi là thầy,
là sư, mà lại cho xuống hàng chú, hàng em, thì không hợp tình và chưa nắm hết
tinh tuý của cách xưng hô Việt Nam tinh ròng, cũng may chưa thấy ai chế tác từ
sư con, sư cháu !!!
Biến hoá nhờ linh động chế tác
Từ kép luyến láy : Treo LỦNG LẲNG chế ra LỦNG LÀ LỦNG LẲNG, rất gợi hình và có thể
dùng để mô tả một tình huống tâm lý : ‘ Chẳng quyết định gì cả, cứ lủng là lủng
lẳng” trong khi từ gốc Lủng Lẳng
thường dùng theo nghĩa đen : con vịt quay
treo lủng lẳng .
Rất nhiều từ chế tác theo vần A như trên, thí dụ : Nhấm nha nhấm nhẳng, Đủng đà đủng đỉnh, Lấp la lấp lửng, Chí cha chí choé, Lung ta lung tung, Loay ha loay hoay, Lâm ra lâm râm, Lúc nha lúc nhúc, Đủng đà đủng đỉnh, Hung ha hung hăng, Ngọng ngà ngọng nghịu, Xí xa xí xọn, Líu la líu lo, Lúc la lúc lắc, Tí ta tí toét, Thút tha thút thít, Lê tha lê thê, Kềnh cà kềnh càng, Phì phà phì phèo..Núng na núng nính, Ụt à ụt ịt, Xì xà xì xụp..
Chế tác theo vần IẾC : Bolsa bôn xiếc, ngồi Thiền ngồi thiếc, thuốc lá thuốc liếc, nhẩy đầm nhẩy điếc, đi bơi đi biếc, tennis ten niếc..
Chế tác theo vần điệu : Tơ lơ mơ, bé tẻo tèo teo, Tùm
lum tà la, Đĩ rời đĩ rạc đĩ lạc thùng rác..Đã có chuyện khôi hài, nhưng có thật
vào thời Pháp thuộc : một giáo sư Pháp bắt thí sinh
dịch Ông Giẳng ông Giăng, ông giằng búi tóc..ra tiếng Pháp, thí sinh Việt
Những từ chế tác làm thay đổi cường điệu, nhẹ đi hoặc mạnh lên, làm linh động, gợi hình, hoặc chỉ có mục đích làm câu nói trôi chảy đỡ cộc lốc ( tiếng Tầu cũng hay dùng từ kép xưng hô thân mật như bà bà, tiểu tiểu, tẩu tẩu, mei mei.. ) một cách trở về nguồn ngôn ngữ song tiết của tiếng Việt cổ truyền chăng ?
Cũng có loại chế tác tạo liên tưởng bằng cách chắp hai từ,
hai ý tưởng vào nhau như : Sè Sè ( Kiều) chắp
hai hình ảnh SỜ SỜ và LÈ TÈ, mồ Đạm Tiên vừa thấp lè tè nhưng sờ sờ ra đấy.
Lừ đừ ( như ông từ vào đền) gồm lừ lừ và đừ,
chậm chạp, mệt đừ..Dậm dật ( ăn no ấm cật, dậm
dật mọi nơi) gợi hình đi lại đây đó lăng nhăng, lại hàm ý dâm dật, chơi bời sau
khi ăn no ấm cật. Thiểm = hiểm độc + thô thiển (?),
con mẹ ấy thiểm, hiểm nhưng không độc
hại lắm, chỉ ty tiện thôi..Ảnh (
tiếng miền
Thơ văn rất cần câu ví von so sánh, mà cách ví von của
tiếng Việt thường phong phú đặc biệt : Ngon quắn lỗ tai, Buồn như châu chấu
cắn, Tức nổ cổ, tức ứ hơi, Miệng kẻ
sang có gang có thép..Lá đa, Mõm chó..Lợn què chữa lợn
lành..Lùn tìn tịt, Cao lêu nghêu..Tinh như ma..Nghịch như quỷ..Đĩ ngựa..Chó cắn ma..Cắn hột cơm không vỡ..Dốt đặc cán
mai..Nói như Thánh Thán..Nóng
như Trương Phi, Hiền như Bụt, Lừ đừ như ông từ vào đền, Chạy cong đuôi, Cà cuống
chết đến đít hãy còn cay, Hòn đất mà biết nói năng, thì thầy địa lý hàm răng
không còn..Con kiến kiện củ khoai..Nói chuyện với đầu gối..Gàn bát
sách..Hỗn như gấu..Quê một
cục..Già chơi trống bỏi..Già
đựơc bát canh, trẻ được manh áo mới..Dai như đỉa đói,
Miệng bằng cái don, ăn lở non lở
núi…
DỊCH
THUẬT
Tiếng Việt là một sinh ngữ, như tiếng Anh, chuyển hoá theo thời đại, dễ
chế tác tạo từ, dễ hiểu, gợi hình, gợi ý. Ngay khi dịch các danh từ chuyên môn, thiết nghĩ
cũng nên theo tiêu chuẩn giản dị nôm na dễ hiểu, chỉ trừ nếu thô kệch quá thì
mới nên dùng từ Hán Việt : Dược khoa lâm sàng (Clinical Pharmacy), Khảo nghiệm lâm sàng
(clinical studies).. từ
lâm sàng rất khó hiểu nên có thể dùng từ Dược khoa bệnh viện (Hospital Pharmacy) cũng hàm ý Clinical
hay Dược khoa Trị liệu, khảo nghiệm bệnh lý.. Inertie nên dịch là Ỳ tính như đã dùng
thời 1945 hơn là Quán tính, Noã tính, từ ỳ nôm na diễn đựơc ý bất động, ỳ
ra..trong vật lý học, réaction intéressante , phản ứng (hoá
học) có vị giáo sư dịch là phản ứng hay
ho, nghe không ổn, Xưởng đẻ nghe lố lăng nhưng đỡ đẻ, sản khoa.. nghe đã quen tai, D.O ( doctor of optometry) không dịch là bác
sĩ đo mắt mà dịch là Bác sĩ nhãn khoa, vậy thì Ophthalmologist M.D. dịch là gì ? Phòng
mạch chỉnh hình, phòng mạch optometry !! không những sai, mà còn lố lăng nữa, ai cũng muốn bắt mạch
giống bác sĩ y khoa cả ! nhưng chúng ta không có Hàn
Lâm Viện hoặc một tập thể có uy tín như Larousse, Webster,
Ngay thời tiền chiến, từ grammaire dịch là văn phạm đã bị chỉ
trích là sai, nay dịch là Ngữ pháp, còn syntaxe mới là Văn phạm ! Ông thầy Việt văn của tôi thời Trung học nhất định
tiếng Việt không có article ( mạo từ, loại từ ), cụ đưa thí dụ : một đống cát, đống phân..chữ
nào là loại từ ? Thời 1960 khi Sàigòn bắt đầu có TV, đài VTTHVN theo Mỹ viết tắt
mà lại còn đọc tắt nữa : Vê Tê Tê Hát Vê En..bị chỉnh
ngay : tiếng Việt đơn âm, đọc nguyên con cũng 6 âm, đọc tắt cũng 6 âm, nghĩa là
tắt chẳng lợi gì cả mà thêm tối mò! Tiếng Việt đơn âm, hay đa âm, đơn tiết hay
song tiết ? nói chữ một, như Bác thì rõ ràng là đơn,
nhưng Bác-Sĩ thì là đa, song âm, tách Bác với Sĩ, thì khác hẳn nghĩa, văn-sĩ, cơ-duyên, nói- phét, đi- làm, nghỉ- hè,
lơ-tơ-mơ,..không thể tách ra làm hai làm ba ..mà phải để nguyên tổng thể mới có nghĩa. Vì thế, có nên viết
liền nhau hai âm trọn một nghĩa danh từ, thí dụ :
Bácsĩ, văngia, đốngcát, chậunước..không
?
Đa số các từ bầy đặt của miền Bắc CS nghe rất chướng : khẩn trương, vô tư, xưởng đẻ, tổ trưởng (tổ vũ nữ!), máy bay lên thẳng..phó tiến sĩ..phó quay phim, phó đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, đồng hồ cao cấp, đồ lót cao cấp..đôi khi gây lầm lẫn như từ Thạc sĩ xưa kia dùng để chỉ hàng giáo sư (Agrégé) nay dùng để dịch học vị Master, Cao học ( D.E.S)..Duy một từ tôi rất tâm đắc là từ Ngõ và Ngách, td Ngõ Gia Ngư, Ngách 2…khỏi phải dùng nhiều số “suyệt” (sur = trên) như 22 trên 13 trên 4A đường Bàn Cờ ( 22/13/4A) v.v. như thời 1950-60 ở Sài Gòn.
Những từ Hán Việt gây ngộ nhận thì vô kể :
Cứu Cánh ( mục đích cao cả) hiểu sai là cứu vớt, Liêu trai ( căn
phòng tạm gọi là phòng) hiểu đại là Liễu trai ( như cây liễu), vật tư (?), Phi
với Vô, tư liệu hay tài liệu ? tác giả hay tác gia ?
Những từ ngoại ngữ, nhưng đã thành quốc tế, thì không nên vì tự ái dân tộc quá
khích mà dịch khác đi : ông TổngThống Ba Tư bắt dịch từ
Pizza sang tiếng Ba Tư, vậy từ Phở có nên dịch là beef soup không ? Áo dài dịch
là long dress thì không thể lột hết hình ảnh áo dài Việt
*
Những dòng lạm bàn tản mạn trên chỉ muốn gợi ý ước mong các nhà ngôn ngữ Việt hội lại, hoàn thành một cuốn Từ Điển Tiếng Việt hoàn hảo hơn những cuốn trước..chưa kể việc soạn thảo Văn phạm Ngữ pháp, Từ điển song ngữ..cũng rất cần thiết, ngay ở Hoa kỳ, đã có cuốn Từ điển Anh Việt, Việt Anh nào chưa hay vẫn phải dùng những cuốn cũ rất thiếu sót như của Nguyễn văn Khôn, hay của các soạn giả trong nước ? Đây là thời đại điện tử, cách làm tự điển đã khoa học hơn nhiều, cuốn từ điển Anh ngữ English Language Dictionary của Collins, Cobuild English Language Dictionary (Collins Birmingham University) 1987 có lẽ là cuốn từ điển đầu tiên dùng máy vi tính xếp đặt và biên soạn : mỗi ngày nhóm biên soạn đọc qua 20 triệu từ, hàng triệu bài, sách báo, lời nói (gọi là lõi -corpus)..chứa đựng các từ đó, lọc lựa ra từ nào dùng trong những trường hợp thông dụng nhất..cuốn từ điển đã hoàn thành với các thí dụ giúp người đọc, viết, ở mức độ chuẩn xác khoa học nhất từ trước tới nay. Từ đó về sau, khoảng mươi lăm năm nay, các từ điển Âu Mỹ đều áp dụng cách này, còn Việt Nam ta chưa biết ra sao, dường như các tác gia làm việc, dù có dùng vi tính, vẫn là theo hứng cá nhân trong tinh thần nhất kiếm anh hùng cố hữu của dân Việt:
Bút
lông bút sắt bút chì
Bây giờ bút điện chữ đi tàng hình
Tú Xương sống dậy thất kinh
Văn minh mạng lưới phận mình ra sao
!
LƯU VĂN VỊNH
Tham khảo chính
-
Nguyễn Hy Vọng : Từ
Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt
CD
-
Nguồn Gốc tiếng Nói Của Người Việt ( VHS)
-
Philippe Papin :
VietNam, Parcours d’une nation- Paris 1999- Bản dịch Nguyễn Khánh Long, Canada,
2001
-
Nguyễn Xuân Quang :
Ca dao Tục Ngữ, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử 2002
-
Bình Nguyên Lộc :
Nguồn Gốc Mã Lai của Tiếng Việt 1973
-
Trương Hữu Quýnh :
Đại Cương Lịch Sử VN tập I -2003