NHỮNG HIỂU
BIẾT CHỦ QUAN VỀ
Y-HỌC ĐÔNG
PHƯƠNG
DẪN
Nhân nhận
thấy nhiều người trong thân hữu chưa thật hiểu về Đông-y nói chung, thậm chí còn hiểu lầm mà đánh giá thấp một cách oan
uổng, lại được sự khuyến khích của môt số bạn, tôi đánh liều đưa ra những hiểu
biết giới hạn của mình. Rất mong được sự thông cảm và chỉ dẫn
thêm của giới chuyên môn để tôi được học hỏi thêm. Biết
đâu đây chẳng là sự mở đầu, kích thích đóng góp để những người thích tìm hiểu về
những học thuật Đông-phương như tôi được có dịp học hỏi
thêm.
Trong khuôn khổ giới hạn của loạt
bài này, tôi chỉ xin nêu ra những nét chính yếu tổng quát về nền y-học Đông
phương và những suy nghĩ của mình. Như vậy quả đã
là “bạo phổi” lắm rồi. Khi có dịp, tôi sẽ trở lại bổ
xung thêm trong khả năng của mình, chi tiết hơn, cho từng
phần.
Đông y là một trong
những khoa học, xuất phát từ nền triết học phương đông từ vũ-trụ quan đến
nhân-sinh quan, mà những nguyên lý biến dịch của vũ-trụ bao trùm lên vạn vật,
trong đó có con người. Vì thế nên người xưa nói: muốn học (đông) y thì
phải hiểu dịch lý và những ứng dụng của nó trong y-thuật.
Nhưng để
tìm hiểu rõ về DỊCH, nhiều người đã viết lên những bộ sách dày cộm mà vẫn chưa
đủ, nên trong nội dung bài này tôi chỉ dám nêu lên những nét chính, dễ hiểu, ứng
dụng trong y-học (đông-phương). Hy vọng rằng các bạn thấy dễ
cảm thông với người sơ học như tôi.
Trước khi
đi sâu thêm vào triết lý nền tảng của Đông-y, tôi xin nêu ra vài nhân định cá
nhân :
1-
Y-học Đông phương có tinh cách
tổng hợp, chủ trương điều hòa, cải tạo môi trường để hóa giải những
chướng ngại gây bệnh; trong khi tây-y sở trường về phân tách, tìm tòi để tiêu diệt tác
nhân gây bệnh, nên theo thiển ý, trong khi “lùng diệt địch” không khỏi làm “văng
miểng”(side effect), tác hại lây sang “bạn”.
2-
Dựa trên nền khoa học thực nghiệm,
phân nghành, chuyên sâu nên tây-y tiến bộ rất nhanh nhưng đôi khi không khỏi rơi
vào tình trạng quá độc lập đến đơn độc. Chúng ta mong thấy “hội chẩn” thành công
hơn trong việc chắp vá những “mảnh vụn” của “phân tách” trong trị liệu, mang lại
nhiều thành quả tốt đẹp hơn. Sau vi-trùng tới vi-khuẩn, rồi siêu vi-khuẩn, rồi
còn những gì nữa? Là một người mến mộ đạo Phật, tôi cảm thấy hơi hoang mang khi
nhớ tới lời Như-lai chỉ vào tách nước mà bảo trong đó có cả muôn ngàn (vi) sinh vật. Tiếp tục phân tách chắc chắn ta sẽ thấy nhiều
điều mới lạ, khoa học thực nghiệm còn tiến rất xa, sẽ đến đâu không biết? Liệu
có cần tới Thiền mà quán tưởng cho thông suốt “lý trời” bao la
?
3-
Trong giới y-sỹ ngày xưa có nhiều
người là đạo-sỹ, võ-sư, thiền-sư am hiểu những căn bản về triêt học Đông-phương,
những thành quả của công phu hàm dưỡng về TINH, KHÍ, THẦN có lẽ đã thấy và hiểu nhiều điều mà người thường
không thấy được, nhờ đó mà cảm thông được với người bệnh khi bắt mạch mà
lập phương chữa trị một cách
hữu hiệu hơn. Nghiên cứu các cổ thư, kinh điển y học,
vì không đủ công phu tu tập, hàm dưỡng nên nhiều người chưa lý giải được hết
được hàm ý của các vị y thánh mà dẫn tới sai lầm.
4-
Phải
chăng các loại thuốc tây nhờ được tinh chế, người bệnh không phải uống một số
lượng lớn dược thảo mới có kết quả, nhưng tây dược lại bị coi là việc chuyển hóa
những tinh chất của chúng mất nhiều năng lực (calories) mà gây ra các hiện tượng
“nhiệt”. Trong khi đó thuốc “ta” được coi là “mát” vì thuận theo thiên nhiên mà du nhập vào cơ thể dễ dàng hơn. Tuy nhiên
ta hãy coi chừng khi dùng đông-y dược vì “nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng (bệnh đang
nóng mà dùng thuốc nóng, như lửa cháy đổ thêm dầu, thì phát điên lên được); Hàn
ngộ hàn tắc tử (bệnh thuộc hàn, cơ thể đang nguội lạnh mà tương thêm thuốc hàn
vào thì...lo hậu sự là vừa)” đó.
5-
Mong
rằng loạt bài này góp phần tạo thông cảm, hiểu biết hơn cho các bạn ít niềm tin,
mà vội vã phủ nhận mọi giá trị của Đông-y. Và cũng mong rằng có ngày đông-y được
nghiên cứu một cách khoa học và kết hợp sở trường của hai học phái đông tây
trong công cuộc “cứu nhân độ thế”.
* ÂM
DƯƠNG
Lão-Tử
nói: “ĐẠO sinh NHẤT, NHẤT sinh NHỊ, NHỊ sinh TAM, TAM sinh VẠN VẬT”( Đạo Đức kinh), ý nói trong khoảng không bao la KHÍ
LỰC vận hành theo quy luật tự nhiên (đạo) mà sinh ra vũ-trụ
(nhất), trong đó có hai thế lực đối lập mà thống nhất (Âm Dương),
không triệt tiêu nhau mà lại kích thích, bổ xung cho nhau để phát triển ra vạn
vật. Do đó trong vạn vật đều có âm dương, tùy theo tỷ
lệ lớn nhỏ mà phân âm, dương chứ không bao giờ có thuần âm hay thuần dương cả.
Đối với con người, trong đông-y cũng phân định : phần
trên và bề mặt của cơ thể là dương, phần dưới và bên trong cơ thể là âm; khí
thuộc dương mà huyết thuộc âm; các chức năng gọi là phủ thuộc dương mà
tạng thuộc âm; v.v....
**
NGŨ HÀNH
Thuyết Ngũ
hành, ta không thấy nói ai là người khởi xướng, đã được đề cập trong Dịch kinh
cũng như Hoàng Đế Nội Kinh (cổ thư được coi như cuốn
“bible” của nền y-học đông phương, đã giúp một cách sâu rộng trong chẩn đoán và
trị liệu Đông-y. Riêng phần này, nếu gỉải thích Ngũ-hành tương đối thỏa đáng
cũng cần phải viết ra ít nhất trên 50 trang chưa kể các dẫn chứng từ cổ thư.
Sinh ra từ
Âm Dương, Ngũ hành gồm 5 khí : Mộc, Hỏa, Thổ, Kim,
Thủy, mỗi “hành” có tỷ lệ âm dương khác nhau, tác động tới nhau theo chiều hướng
thuận, hưng phấn (sinh) hay nghịch, ức chế (khắc). Nhưng tuy trong chiều
hướng thuận lợi mà đi tới chỗ quá đáng thì sự vật lại trở thành bất lợi (phản
sinh). Cũng vậy, ức chế thái quá cũng lại thành ra không tốt
(phản khắc). Do đó Ngũ hành bao gồm một hệ thống
SINH, KHẮC, PHẢN SINH, PHẢN KHẮC chê hóa lẫn nhau mà giữ được quân bình.
Tác động của Ngũ hành tạo thành hệ thống, khi hoạt động bình thường, tự
điều chỉnh để giữ thăng bằng cho cơ thể, hoặc lúc bất thường, được tác động
theo phương pháp Đông-y để tái lập quân bình mà chữa
bệnh. Trong trị liệu, y sỹ ứng dụng nguyên tắc “tổn hữu dư
(quá hưng phấn thì cần được tiêu giảm), bổ bất túc (quá yếu kém, thiếu hụt thì
phải tăng cường)” để tái lập quân bình cho cơ thể.
Ghi
chú : Nên nhớ
rằng từ hai khí ÂM-DƯƠNG trong vũ trụ, người ta phân nhỏ ra thành LỤC KHÍ :
Thiếu Dương, Dương Minh, Thái Dương và Quyết Âm, Thiếu Âm, Thái Âm. Là tiểu vũ
trụ trong con người cũng có Lục khí. Tôi mong rằng phần chú
thích này giải thích thêm cho bảng tổng hợp ở dưới
đây.
Tóm lại,
Ngũ hành là nền tảng của nền y-học phương đông, từ sinh lý đến tâm lý học, từ
thuyết Tạng phủ đến nguyên bệnh học và những phương pháp trị liệu cổ truyền mà
các đông y-sỹ ứng dụng trong trị liệu.
Vậy “HÀNH”
có nghiã là “đi”, “vận động”, nhũng tác động và biến hóa của âm
dương.
Đặc tính
của Ngũ hành trong Đông-y có thể tạm tổng hợp như
sau:
·
MỘC, ví như cây tươi, sắc xanh
lá cây, thuộc khí Thiếu-Dương, phát triển theo chu trình Sinh, có
những tương ứng với trời (phong khí, mùa xuân, buổi sáng...), với
đất (phương đông) và người (tạng phủ: can, đảm; cơ phận: gân, thị
giác), ...
·
HỎA, ví như lửa, sắc đỏ, thuộc Thái
Dương, phát triển theo chu trình Trưởng, có những tương ứng với trời
(thử nhiệt, mùa hạ, buổi trưa), đất (phương nam) và người (tạng phủ:
tâm, tâm bào, tiểu trường, tam tiêu; mạch, lưỡi), ...
·
THỔ, ví như đất, sắc vàng, phát
triển theo chu trình Hóa (chuyển biến), có những tương ứng với
trời (khí ẩm thấp, cuối hạ, buổi trưa chuyển sang chiều), đất
(phương trung ương) và người (tạng phủ: tỳ, vị; thịt, miệng),
...
·
KIM, ví như kim loại, sắc trắng
thuộc Thiếu Âm, phát triển theo chu trình Thâu, có những tương ứng với trời
(táo=khô ráo,mùa thu, buổi chiều tối), đất (phương tây) và người
(tạng phủ: phế, đại trường; da, mũi), ...
·
THỦY, ví như nước, sắc đen, thuộc
khí Thái Âm, phát triển theo chu trình tàng ẩn, có những tương ứng với trời
(khí lạnh, mùa đông, đêm khuya), đất (phương bắc) và người
(tạng phủ: thận, bàng quang; nước tiểu, xương), ...
NGŨ HÀNH SINH KHẮC CHẾ HÓA
A.-
SINH
Nếu bắt
đầu từ MỘC ở trên đỉnh một vòng tròn, vẽ vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, tới
HỎA, tới THỔ, tới KIM, tới THỦY rồi trở lại MỘC, ta có chu trình sinh (hưng
thuận hay chiều dương) : ta lấy hai khúc củi (mộc) cọ sát mạnh vào nhau
sẽ phát sinh ra lửa (hỏa); vật bị lửa thiêu đốt sẽ cháy ra tro đất (thổ); tuy
đất(thổ) không thật sinh ra KIM nhưng ta tìm thấy kim loại trong lòng
đất; đến KIM sinh THỦY thì thật khó giải thích quá, phải chăng người xưa đã biết
thủy ngân là kim loại? Cuối cùng thì chắc ai cũng đồng ý là mưa xuống thi cây
cối mọc lên tươi tốt hoặc muốn cây không bị chết khô thì phải năng tưới nước
chứ ; như thế thì đúng là THỦY sinh (dưỡng) MỘC
rồi.
B.- KHẮC
Vẫn giữ vị
trí như trên, ta kẻ thẳng từ MỘC
sang THỔ, thẳng xuống THỦY, tiếp tục thẳng lên HỎA rồi thẳng xuống KIM và lại
xéo lên MỘC, ta có hình ngôi sao 5 cánh của chu trình khắc. Ta lý luận : cây cối (MỘC) mọc lên tốt quá thi đất (THỔ) mất đi
nhiều màu mỡ; người ta lấy đất (THỔ) đắp đê điều để ngăn nước lụt (THỦY); dùng
nước để chữa cháy là dùng THỦY để khắc chế HỎA; dùng lửa nóng nấu chảy kim loại (HỎA
khắc KIM); và dùng rìu đốn củi, cưa để xẻ gỗ là lấy KIM khắc MỘC
vậy.
C.- PHẢN
SINH
Nhưng khi
“con” quá lớn mạnh thì “mẹ” lại bị tiêu hao, mòn mỏi. Đây là
trường hợp của sự phản sinh. : MỘC tuy sinh HỎA, nhưng lửa lớn quá
lại tốn củi; HỎA tuy sinh THỔ đấy nhưng người ta cũng còn dùng đất để giập tắt
lửa kia mà. Trữ lượng mỏ kim
loại lớn thì lượng đất phải ít đi chứ? Khi bị đun chảy thì kim loại không còn cương mãnh nữa. Cũng lại
như thế, muốn cho cây cối tốt tươi thì tất nhiên phải tốn nhiều nước
rồi.
D.- PHẢN
KHẮC
Đây cũng lại là một trường hợp phản
ứng ngược nữa.
Tuy MỘC khắc THỔ nhưng nếu đất cứng quá thì cây mọc lên không
nổi. THỔ khắc THỦY, nhưng nếu nước lớn quá thì củng vỡ
đê thôi (vỡ đê thật chứ không phải là “vo đe” đâu đấy nhé). Cháy (HỎA) lớn quá thì phun nước vào đến đâu bị bốc hơi đi đến
đó. HỎA tuy khắc KIM nhưng người ta cũng dùng lửa để tôi thép, luyện
kim cho tốt bền hơn.
Nói tóm
lại, theo quy luật thiên nhiên, Ngũ hành có nguyên nhân và hậu quả liên quan rất
mật thiết, hoán chuyển “chủ khách” với nhau để tạo thành quân bình cho cơ thể.
Nhưng lúc biến loạn, hoặc quá dư thừa (hữu dư) hay quá
thiếu kém (bất túc) gây bệnh cho con người.
***
HỆ THỐNG TẠNG PHỦ
Người xưa
hay dùng lối nói ngụ ngôn, nghe có vẻ mơ hồ, thiếu chính xác nhưng thực sự muốn
bao hàm rộng rãi hơn. Cũng vậy, tạng phủ hay còn gọi là “tạng tượng”, là một học
thuyết về cơ thể khác hẳn tây y, chỉ mượn tên bộ phận để biểu tượng, diễn tả một
hệ thống rộng hơn, quan hệ liền lạc với các phần khác của cơ
thể.
Chẳng hạn
như khi nói đến TÂM TẠNG, đông y không chỉ nói đến trái tim, một “cái bơm” thúc
đẩy máu lưu thông trong huyết quản,
tâm không chỉ “tàng huyết”(chứa máu) mà còn “tàng thần”, liên quan mật
thiết đến thần kinh hệ, tới não bộ, tới tâm thần, phần sinh hoạt vượt khỏi cơ
thể...
THẬN TẠNG không chỉ là trái thận
với chức năng lọc máu mà còn bao gồm cả nang thượng thận, cả nhiệm vụ truyền
giống nữa ...
Nhất là
khi nói tới TÂM BÀO và TAM TIÊU thì rõ ràng là nói tới chức năng có liên hệ rộng
tới các cơ phận khác của cơ thể: Tâm bào là chức năng tiền phương, có nhiệm vụ
bảo vệ cho Tâm tạng và Tam tiêu là công việc của ba vùng ngực (gồm tâm- phế),
bụng trên (gồm chức năng Tỳ - Vị) và bụng dưới (gồm Tiểu trường - Đại trường),
cũng được gọi là “tướng hỏa”.
Do đó, tôi
xin khái quát các TẠNG-PHỦ như sau, lần lượt theo thứ
tự Ngũ hành:
1-
CAN, thuộc hành Mộc, thuộc
phong khí nên sinh động (chu trình
SINH), thuận lợi trong mùa xuân, buổi sáng. Trong cơ thể quan hệ với
gân bắp: “CAN chủ CÂN” (tạng Can mạnh thì gân cũng mạnh, sức bật tốt),
thuộc mộc nên gặp nhiệt (hỏa) sốt cao thì gây co giật cơ bắp. Can
(thuộc khí thiếu dương) có quan hệ mật thiết (liên kết) trong ngoài (biểu
– lý) với ĐỎM (ĐẢM), thuộc PHỦ, cũng hành Mộc, khí thiếu dương. Vậy chức năng
chính của Can - Đởm là vận động. Người xưa cũng nói: “CAN tàng HUYẾT”, ta cũng
thấy cơ bắp khi vận động quả đã thu phát một số lượng
máu lớn qua đó.
2-
TÂM, thuộc hành Hỏa, thuộc khí
thử, nhiệt (nắng, nóng), tiến lên cao độ (chu
trình TRƯỞNG), sức nóng phát triển mạnh vào mùa hè, lúc giữa trưa. Ta
cũng thấy người có máu đầy đủ trông khoẻ mạnh hồng hào, trái lai người thiếu máu
trông xanh xao, dễ thấy lạnh.Trái tim điều động máu
(Tâm tàng huyết) nhưng Tâm cũng tàng Thần nên những sinh hoạt của
hệ thần kinh, tinh thần cũng nằm trong TÂM tạng. Tâm có tương ứng biểu-lý với
TIỂU-TRƯỜNG (PHỦ), cũng thuộc hành Hỏa, cùng có chức năng chính là sản nhiệt cho
cơ thể. Ngoài ra còn phải nói tới TÂM BÀO (TẠNG) và TAM TIÊU (PHỦ) cũng thuộc
HỎA có nhiệm vụ tiền phương (nên gọi là Tướng Hỏa), hỗ trợ cho TÂM-TIỂU TRƯỜNG
(được gọi là Quân
Hỏa).
3-
TỲ, thuộc hành Thổ, thuộc thấp
khí, ở vào lúc chuyển biến (HÓA), giai đoạn chuyển đổi. Nói
theo lối cổ thì Tỳ là tụy tạng, nhưng thực ra Tỳ cùng
với Vị (tương ứng biểu-lý) bao gồm cả hệ thống tiêu hóa, kể cả răng miệng, thực
quản, thượng vị lẫn tụy, bao tử và một phần công việc của lá gan. Răng hư hay
rụng nhiều cũng làm cho bao tử “nặng gánh”, ăn không chịu nhai kỹ hoặc cứ “lo
ra”, nước miếng không tiết ra đủ để góp phần vào viêc tiêu hóa, nhai cơm cứ như
nhai rơm thì rồi cũng đi đến đau bao tử mất thôi. Nhưng khi thức ăn được tiêu hóa rồi thì gan giúp tinh lọc thành huyết để rồi
được biến dưỡng nuôi thân. Công việc đó khiến “các cụ” bảo là TỲ có công năng
“thống huyết”, nuôi dưỡng, phát triển cơ thể nên bảo là “chủ cơ nhục”. Công năng
này còn gọi là “tiết xuất” ví như mặt đất (Thổ) này đã góp phần nuôi dưỡng sinh
vật trên đó.
4-
PHẾ, hành Kim, thuộc táo khí,
ở vào giai đoạn Thu vào (chu trình THÂU).
Phế chủ Khí, biến dưỡng khí trời vào nuôi thân, đào thải thán khí trong
máu. Phế còn “chủ bì mao”, như ta đã biêt, con người
không chỉ thở bằng hai lá phổi mà còn thở qua lỗ chân lông nữa. Người bị phỏng
nặng trên da có thể chết vì ngộp. Người tập khí công cũng bắt đầu bằng thổ nạp
công phu (hít thở) vì trong không khí còn có tinh khí vũ trụ (prahna). Xiêng
năng tập luyện, khí lực trong con người sẽ trở nên xung mãn, có nhiều khả năng
khiến nhiều người từ ngạc nhiên đi tới thán phục. Ngoài ra ta cũng phải kể tới
chức năng “nạp khí” của Thận. Trong khí công ta cũng nghe nói tới “thở thận”.
Phủ có tương ứng biểu-lý với Phế là Đại trường, cũng thuộc hành Kim, cùng nhiệm
vụ đào thải cặn bã khỏi cơ thể. Kinh nghiệm cá nhân cho thấy cứ mỗi lần ăn tham quá mức thường, tôi cảm thấy chân răng ngưa ngứa, cứ
phải nghiến răng mới thấy dễ chịu, đó là bao tử sắp có vấn đề, sắp rêm đau, là
vội vàng phải đi tìm nhai 2 viên nghệ hoặc vớ ngay Zantac
75...
5-
THẬN, hành Thủy, thuộc thấp khí,
tới giai đoạn liễm tàng (chu trình TÀNG). Cùng với
Phủ Bàng-quang, tương ứng biểu-lý, có chức năng “điều hòa thủy đạo”, hằng
định nội môi của cơ thể, bài tiết nước tiểu. Vì cũng còn có chức năng “nạp khí”
nênThận cũng “tàng tinh”, “tinh” đây là tinh khí hấp thụ từ ăn uống, hít
thở trong môi trường mà cũng còn là tinh hoa của “tiên thiên khí” để tiếp nối
cho thế hệ sau (truyền giống). Do đó cơ thể suy nhược có thể do Thận yếu, không
cung ứng nổi tinh khí cho các tạng phủ khác để nuôi thân. Đông y cũng nói: Thận
tàng tinh, sinh tủy, nuôi răng ... nên xương yếu, răng rụng sớm là do Thận khí
không đủ. Ngược lại, ta thấy những nam nhân da đen, răng tốt, trắng nhởn thường
có khả năng sinh lý “tối ưu”, các vị nam tử này thuộc hạng “quan to súng dài
loại shotgun”. (thuyết Tạng-Phủ của Đông y rắc rối quá xin quí bạn cho tôi
tán nhảm một chút để relax nhé).
Như trên đã trình bày, chắc các bạn
cũng thấy cần hiểu Tạng-Phủ theo chức năng phức tạp của
nó mới hiểu được lối lý luân của Đông-y. Ngoài ra do ứng dụng Ngũ hành, các Tạng
Phủ đều phân nhỏ Ngũ hành như Can mộc, Can hỏa, Can thổ, Can kim, Can thủy; các
Tạng phủ khác cũng phân ra như vậy. Đây là những ứng dụng
thiết yếu trong chẩn trị.
**** HỆ THỐNG KINH
MẠCH
Kinh Mạch nói chung là hệ thống vân hành khí hóa giữa Tạng phủ với nhau và
liên lạc ra tới tận mặt da (quan hệ Biểu-lý). Qua hệ thống này
y-sỹ định mức độ của bệnh mà lập phương tri liệu (bệnh mới xâm nhập bì phu, ở
biểu, hay đã vào sâu trong tạng-phủ, lý ...). Hệ thống
này không có đường đi cụ thể như huyết mạch, hệ thân kinh, hay lâm-ba tuyến
nhưng cũng chằng chịt phân bố khắp cơ thể. Trong các
kinh điển Đông y đều đề cập phong phú về kinh mạch nhưng tôi chưa được đọc sách
nào nói tới ai và làm cách nào khám phá ra hệ thống này. Phải chăng có vị chân tu nào đó đã tìm thấy nó trong lúc tĩnh tọa,
thiền định mà truyền lại cho các thế hệ sau. Trên căn bản này riêng khoa
châm cứu đã phát triển rất mạnh, từ thể châm (châm cứu vào các huyệt trên cơ
thể) đến đầu châm, thủ (bàn tay) châm, túc (bàn chân), tỵ (mũi) châm, diện (mặt)
châm ..., (sau này nhờ máy đo điện trở, người ta nhận thấy đường đi của các kinh
chính cũng như đã được vẽ trong các cổ thư) ở tây phương ta cũng thấy những
thành quả của reflexology, massotherapy trong trị liệu, tác động từ ngoài mặt
da.
Trong Đông y, ta được học :
·
12 KINH CHÍNH dẫn khí Âm-Dương từ
tạng-phủ, trong ra ngoài và ngược lại. Lại thêm Đốc mạch, mệnh danh là biển của
các kinh dương và Nhâm mạch, biển của các kinh âm để điều hòa các khí Thiếu
dương, Dương minh, Thái dương và Thiếu âm, Quyết âm và Thái âm (6 khí lực trong
con người cũng như lục khí của trời) của các Tạng, Phủ.
·
Các LẠC ngang, dọc, nối từng cặp
KINH tương ứng với nhau và là đường phụ (như frontage với freeway) nối từ ngoài
vào Tạng, Phủ, và những Tôn lạc bủa ra khắp nơi.
·
KỲ KINH BÁT MẠCH gồm ĐỐC
(điều đạt 6 kinh dương chạy qua tay, chân), NHÂM (điều đạt 6 kimh âm chạy
qua tay chân), DƯƠNG DUY
kết nối các kinh dương, ÂM DUY kết nối các kinh âm, DƯƠNG KIÊU
(cầu) nối mặt dương, mé ngoài cẳng chân, ÂM KIÊU nối mặt âm, mé trong
cẳng chân, ĐỚI MẠCH liên kết các kinh cả dương lẫn âm quanh vòng
eo lưng và XUNG MẠCH kết nối từ dưới thân trở lên.
Nói chung toàn bộ hệ thống KINH
MẠCH LẠC ngoài nhiệm vụ liên kết
các khí Âm-Dương, tạng phủ trong ngoài còn tiếp nhận Âm Dương từ trời xuống, từ
đất lên, mà giữ quân bình cho cơ thể được khang kiện. Hệ thống này được coi như
mạch lưu thông giữa vũ trụ và con người (vốn được coi như một tiểu vũ
trụ). Sau này, khi có dịp chúng ta sẽ bàn tới sư quan
trọng của THUYẾT TAM TÀi (Thiên-Địa-Nhân), con người với môi trường (trời đất),
trong Đông y.
*****
HUYỆT
Huyệt là những điểm nhỏ khoảng 1mm
vuông, phản ảnh tới các phần khác của cơ thể, dùng để chẩn đoán hoặc trị
bệnh. Ta có thể
tạm phân
loại ra như sau :
1-
Kinh huyệt là những huyệt nằm trên các đường
kinh mạch chính, hay giao điểm của chúng. Trong nhóm này có một số huyệt dùng để
chẩn đoán.
2-
Thiên ứng huyệt là những điểm nhấn thấy đau trong
khi chẩn đoán và được tác động vào để chữa bệnh, không cố định và không nằm trên
các kinh mạch chính.
Như ta đã biết khí mạch bủa khắp
toàn thân, nên các điểm phản ứng trên da (huyệt thiên ứng) cũng có thể tác động
đến dòng khí lưu trong cơ thể để trị bệnh bằng nhiều phương pháp dùng dược, châm
cứu, xoa bóp (tẩm quất, shiatsu, physicaltherapy, v.v. ...
(còn tiếp
phần 2)
Ngô Quyền.
TX